Thứ Tư, 7 tháng 10, 2015

MUA SÁCH VÀ DỰNG TỦ SÁCH LÀ CẢ TƯƠNG LAI

MUA SÁCH VÀ DỰNG TỦ SÁCH LÀ CẢ TƯƠNG LAI

Có lần bạn tôi hỏi: "Tại sao cậu mua quá nhiều sách trong khi chưa chắc đã đọc?".

Tôi có trả lời bạn tôi rằng: "Sách không bao giờ lỗi thời như quần áo, hay bất kì thứ gì khác, nó sẽ nằm đó trọn một đời người để chờ tớ đọc."

Tôi nghĩ đơn giản vậy, nên tôi không chờ đọc hết quyển này rồi mới mua quyển khác. Tôi dành cho việc mua sách một phần lương mà tôi nhận được. Hàng tháng, như một thói quen, như một cách để mang "tri thức và tâm hồn của cả thế giới" về nhà, cất lên tủ sách bé nhỏ mà mẹ tôi, dù không thích tôi đọc quá nhiều sách đã tự đo đạc và đi đặt làm cho tôi.

Bố tôi mua tặng tôi quyển sách đầu tiên trong đời mình: Bông hồng vàng và bình minh mưa của Paustovski, mẹ tôi làm cho tôi tủ sách. Bạn gái tôi có lần đến nhìn tủ sách của tôi và bảo: "Sau này ai mà là con anh thì sướng lắm, được đọc bao nhiêu sách của bố". Tôi có đầy tình yêu với nó như vậy, để rồi tôi cứ mua về, để lên đấy, ngắm nghía, chăm sóc tủ sách của mình.

Rồi tôi đi du học. Sách ở nước ngoài đắt hơn. Tôi phải tiết kiệm hơn nhưng chưa bao giờ bỏ thói quen mua sách. Tôi tự cho phép mình 1 tháng mua hai quyển. Rồi tự mình dựng một chiếc tủ nhỏ để đặt sách lên đó. Rồi tôi trộm nghĩ, tôi sẽ mang chúng về Việt Nam, một ngày nào đó, mang hết về và đặt chúng với những quyển sách đã nuôi lớn tâm hồn tôi bao nhiêu năm qua.

Có một cô gái viết lời tựa trong một quyển sách để tặng tôi rằng: Lơ lửng như mỗi chúng ta, cuộc đời luôn rất đẹp.

Tôi tin vậy, cuộc đời này luôn rất đẹp dành cho những tâm hồn đẹp. Những tâm hồn đẹp được nuôi dưỡng bằng vốn hiểu biết có từ sách vở và sự trải nghiệm với khả năng tri kiến do ta tự học được từ việc đọc. Nên tôi nghĩ, thay vì chúng ta muốn đứa trẻ hạnh phúc bằng cách mua cho chúng một bộ PS4, thì ta có thể bắt đầu xây dựng cho chúng một tủ sách để "chứa cả thế gian" cho đứa trẻ khám phá. Hẳn sẽ tốt hơn nhiều phải không?

Nên bạn à, đừng ngại mua nhiều rồi mình không đọc hết. Vì sách mà, nó không sợ bị cũ đâu, vì càng cũ, mùi của nó càng tuyệt vời, đến mức, một ngày, nó sẽ đủ sức quyến rũ bạn đọc nó, hoặc con của bạn... đều tốt cả. Mua sách và dựng tủ sách, là dựng cả tương lai đấy.

- Tuấn lalarme -

*******************


************
- Nghe và nói, đọc và viết là những mặt biện chứng của nhau.

- Việc ta thường xuyên nghe gì và đọc gì sẽ chi phối việc ta thường xuyên nói gì và viết gì.

- Tôi thường nghe cái tĩnh trong cái động, cái động trong cái tĩnh; đọc cái không trong cái có, cái có trong cái không.
_____________________

“Nếu tin cả vào sách thì thà đừng đọc sách còn hơn”
__ Mạnh Tử

"Một nhà văn phải kiếm tiền để sống và viết, nhưng anh ta cũng không nên bằng mọi cách, sống và viết để kiếm tiền."
__ K.Marx

“Nếu ta không gieo trồng tri thức khi còn trẻ, nó sẽ không cho ta bóng râm khi ta về già.”
__ Chesterfield

"Người kinh nghiệm phong phú đọc sách dùng hai mắt, một con mắt nhìn lời trên tờ giấy, một con mắt nhìn mặt sau tờ giấy"
__ Goethe

"Đọc sách cần phải: một là, thấu hiểu và phê phán; hai là, cùng với bạn bè hoặc trong khung cảnh gia đình, ba là đọc đi đọc lại cái đã đọc, bốn là với cây bút trong tay"
__ P. Pốt-te

“Con người ta có ba cái đầu: một cái do bẩm sinh, một cái có được từ trong sách, một cái có được từ trong cuộc sống”
__ Montaigne

"Đọc sách làm cho con người đầy đủ, luận đàm tạo thành con người sẵn sàng và viết lách tạo thành con người đúng đắn"
__ Francis Bacon

"Học vấn là tài sản vô hình của đàn ông, dung mạo là tài sản hữu hình của đàn bà."
__ Ngạn ngữ phương Tây

"Bộ lông trang sức con công, học vấn trang sức con người."
__ Ngạn ngữ Nga

"Biết bao kẻ đọc sách và học hỏi, không phải để tìm ra chân lý mà là để gia tăng những gì mình đã biết."
__ Julien Green

"Dẫu có bạc vàng trăm vạn lạng. Chẳng bằng kinh sử một vài pho."
"Trong bụng không có được ba vạn quyển sách, trong mắt không có được núi sông kỳ lạ của thiên hạ thì chưa chắc đã làm được văn."
"Đọc sách không cần nhiều, đọc một chữ đem áp dụng làm việc được một chữ, thế là được."
__ Lê Quý Đôn

Thứ Ba, 6 tháng 10, 2015

GIAI CẤP LÀ GÌ?

GIAI CẤP LÀ GÌ?

Con hỏi bố: “Bố ơi phân chia giai cấp là gì hả bố”.
Bố trả lời: “Lấy nhà mình làm ví dụ, bố kiếm tiền thì bố là giai cấp tư bản, mẹ lãnh đạo thì mẹ là chính quyền, con là nhân dân, còn em con là tương lai, cô giúp việc nhà mình là giai cấp lao động”.
Tối hôm đó, em bé ỉa đùn, cậu bé tìm mẹ thì thấy mẹ đang ngủ say, sang phòng cô giúp việc thì thấy bố đang…
Sáng hôm sau, bố hỏi: “Hôm qua bố giải thích thế con có hiểu ko?”.
Con trả lời: “Tối hôm qua, Giai Cấp Tư Bản đè đầu cưỡi cổ Giai Cấp Lao Động, trong khi đó Chính Quyền ngủ say không biết gì, còn Nhân Dân thì vô cùng hoang mang vì Tương Lai đang ngập chìm trong cứt!”

Giai cấp là gì?
_________________________
GIAI CẤP VÀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP.
1.Giai cấp:
Thời đại XH thị tộc, bộ lạc, loài người chưa phân thành giai cấp, Cuối thời đại thị tộc, bộ lạc trong nội bộ các cộng đồng người, dần dần hình thành giai cấp. Từ khi Xh phân chia thành các giai cấp và các cuộc đấu tranh không ngừng diễn ra lúc ngấm ngầm, lúc công khai thì quan hệ giữa người với người thay đổi về căn bản. Vậy giai cấp là gì ? g/c tồn tại trong điều kiện lịch sử nào ? Vì sao có đấu tranh g/c, đấu tranh g/c có vai trò như thế nào trong lịch sử và trong thời đại ngày nay. Đó là những vấn đề hết sức cơ bản để khám phá các qui luật lịch sử, để hiểu lịch sử XH loài người từ khi XH nguyên thủy tan rã.
a. Định nghĩa ( của Lênin): G/c là những tập đoàn người mà tập đoàn này thì có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong 1 chế độ kinh tế, xã hội nhất định.
b. Đặc trưng cơ bản của giai cấp:
- G/c là những tập đoàn người có địa vị khác nhau trong 1 hệ thống xã hội nhất định, sự phân chia g/c gắn liền với hệ thống sản xuất XH nhất định. Trong Xh có những hệ thống SXXH nô lệ, hệ thống SXXH phong kiến, hệ thống SX TBCN. Ngược lại có những hệ thống SXXH không chứa đựng trong lòng nó những yếu tố phân chia g/c như hệ thống SXXH CSNT, hệ thống SX CSCN mà giai đoạn đầu gọi là XHCN.
HTSX XH qui định địa vị của các g/c, có g/c giữ địa vị thống trị, có g/c giữ địa vị bị thống trị.
- Các g/c có quan hệ khác nhau về quyền sở hữu đối với TLSX: G/c nào chiếm đoạt được những TLSX chủ yếu của XH thì g/c đó sẽ giữ quyền thống trị nền sản xuất XH, giữ quyền tổ chức quàn lý sản xuất và cũng giữ quyền phân phối sản phẩm do XH tạo ra.
- Các g/c có quan hệ khác nhau trong việc tổ chức lao động XH. Đặc trưng này do chính đặc trưng thứ 2 qui định.
- Các g/c có những phương thức và qui mô thu nhập khác nhau về của cải XH. Đặc trưng này do đặc trưng thứ 2 qui định
04 đặc trưng trên có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó đặc trưng 02 là giữa vai trò quuyết định, nghĩa là g/c nào chiếm đoạt TLSX chủ yếu của XH, thì g/c ấy không những giữ địa vị thống trị sản xuất XH, giữ lấy quyền quản lý sản xuất mà còn có quyền phân phối sản phẩm.
c. Nguồn gốc, nguyên nhân ra đời & kết cấu của g/c:
+ Nguồn gốc: Nguồn gốc kinh tế là nguồn gốc quan trọng nhất.. G/c chỉ ra đời và tồn tại trong
những điều kiện lịch sử nhất định.
Thời kỳ nguyên thủy: trình độ sản xuất thấp, sản phẩm làm ra chưa đủ nuôi sống con người, để tồn tại họ phải sống bầy đàn lệ thuộc vào nhau nên g/c chưa xuất hiện.
Khi LLSX phát triển, CCSX bằng kim loại ra đời thay thế công cụ bằng đá dẫn đến năng suất lao động tăng đáng kể cho nên của cải dư thừa xuất hiện dẫn đến phân công LĐ hình thành cho nên chế độ tư hữu ra đời vì thế g/c xuất hiện. Như vậy XH chiếm hữu nô lệ là XH có g/c đầu tiên hình thành bằng 2 con đường: phân hóa nội bộ trong CSNT và chiến tranh cướp bóc, biến tù binh thành nô lệ.
Sự tồn tại của g/c đối kháng gắn với chế độ CHN, PK, TBCN, CNTB phát triển cao lại tạo tiền đề thủ tiêu chế độ tư hữu, cơ sở kinh tế của đối kháng g/c trở thành xu thế khách quan trong sự phát triển xã hội dẫn tới logic khách quan của tiến trình phát triển lịch sử.
+ Kết cấu: Trong 1 hình thái KTXH có g/c thì có 1 kiểu kết cấu g/c nhất định ( nói chung g/c cơ bản và g/c không cơ bản ). Khi hình thái kết cấu XH thay đổi dẫn đế kết cấu cũng thay đổi theo. Trong 1 kiểu kết cấu g/c xác định gồm: g/c cơ bản, g/c không cơ bản , có những tầng lớp không thuộc g/c nào ( tầng lớp trí thức).
2. Đấu tranh giai cấp:
a. Định nghĩa: (Lênin) Đấu tranh g.c là đấu tranh giữa những gc mà lợi ích căn bản đối lập và kết cục của cuộc đấu tranh đó đi đến 1 cuộc cách mạng XH để thay đổi chế độ XH này bằng 1 chế độ khác tiến bộ hơn.
Chủ yếu đấu tranh gc là đấu tranh giữa gc bị bóc lột, bị áp bức, bị thống trị chống lại gc bóc lột, áp bức, thống trị
b. Nguyên nhân:
- Trực tiếp: Do địa vị đối lập nhau.
- Sâu xa: sự đối kháng gc xuất phát từ mâu thuẫn giữa LLSX mới với LLSX lỗi thời
c. Vai trò của đấu tranh gc:
Lịch sử XH kể từ khi xuất hiện gc đến nay là lịch sử đấu tranh gc. Trong XH có gc đối kháng thì gc là 1 trong những động lực thúc đẩy sự phát triển của XH. Vai trò đó thể hiện:
+ Thông qua đấu tranh gc thì mâu thuẫn giữa LLSX mới & QHSX lỗi thời sẽ giải quyết. Thúc đẩy sự phát triển của XH từ HTKT- XH này đến HTKT XH khác tiến bộ hơn.
Sự phát triển của XH xèt đến cùng là do sự phát triển của LLSX quyết định. LLSX mới mâu thuẫn với QHSX lỗi thời, biểu hiện về mặt XH là mâu thuẫn giữa gc đại diện cho LLSX mới và gc đại diện cho QHSX lỗi thời. Mâu thuẫn đó chỉ có thể giải quyết bằng cuộc đấu tranh gc mà đỉnh cao là CMXH nhằm xóa bỏ QHSX cũ, thiết lập QHSX mới.
+ Đấu tranh gc là động lực phát triển XH. Trong XH có gc đối kháng không chỉ thể hiện trong thời kỳ CMXH mà còn thể hiện trong cả thời kỳ hòa bình. Vd: cuộc đấu tranh chống kéo dài thời gian lao động, sử dụng kỹ thuật hoàn thiện hơn để nâng cao năng suất LĐ cho nhân công, đấu tranh trong nước và áp lực của các nước khác để có những cải cách tiến bộ.
+ Đấu tranh gc không chỉ có tác dụng cải tạo XH mà còn có tác động cải tạo bản thân gc cách mạng. Qua đấu tranh gc , gc CM được tôi luyện và trưởng thành về lý tưởng, lý luận, tổ chức.
3. Liên hệ thực tế:
Hiện nay đấu tranh gc biển đổi phong phú và đa dạng, đấu tranh về kinh tế, chính trị và cả văn hóa…
Nội dung đấu tranh gc ở nước ta hiện nay:
- Đấu tranh giữ vững chính quyền CM, chống lại âm mưu xâm lược của bọn đế quốc, âm mưu diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch.
- Đấu tranh chống khuynh hướng tự phág TBCN, đảm bảo các thành phần kinh tế phát triển theo định hướng XHCN.
- Đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, tham những, mớc ngoặc.
- Đấu tranh để thực hiện hiện đại hóa, công nghiệp hóa đưa nước ta thành 1 nước công nghiệp dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

___________________________

1. Định nghĩa giai cấp của Lênin: 
"Giai cấp là những tập đoàn người to lớn khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận) đối với tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng. Giai cấp là những tập đoàn người mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác do chỗ các tập đoàn có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế - xã hội nhất định". 

2. Những đặc trưng cơ bản của giai cấp 
Các giai cấp có địa vị khác nhau trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định; có quan hệ khác nhau đối với tư liệu sản xuất; có vai trò khác nhau trong tổ chức lao động xã hội; có phương thức và quy mô khác nhau trong thu nhập của cải xã hội. 

3. Ý nghĩa, định nghĩa giai cấp của Lênin 
Định nghĩa giai cấp của Lênin là cơ sở đúng đắn để phân định giai cấp; phân tích các quan hệ giai cấp trong đấu tranh giai cấp và liên minh giai cấp; bác bỏ mọi quan điểm sai lầm trong việc phân chia giai cấp trong xã hội như quan điểm phân chia giai cấp theo tài năng, theo ngành nghề, theo mức thu nhập, theo màu da, v.v.. 

II. Vai trò của đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp và tính tất yếu của đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ 
1. Nguyên nhân của đấu tranh giai cấp 
- Đấu tranh giai cấp nảy sinh do sự đối lập về lợi ích và địa vị của các giai cấp khác nhau trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định. Các giai cấp bóc lột của các hình thái xã hội khác nhau cũng có thể đối kháng về lợi ích, như giữa giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến. Nhưng trước sự phản kháng của giai cấp bị bóc lột, chúng dễ dàng liên kết với nhau. Do đó thực chất của đối kháng giai cấp là đối kháng lợi ích giữa giai cấp bị bóc lột và giai cấp bóc lột. 

2. Đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội có giai cấp 
- Thông qua cuộc đấu tranh giai cấp, sự xung đột giữa lực lượng sản xuất mới và quan hệ sản xuất lạc hậu được giải quyết, thực hiện bước quá độ từ một chế độ xã hội lỗi thời sang chế độ mới cao hơn. 
- Đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội có giai cấp không chỉ thể hiện trong thời kỳ cách mạng xã hội, mà còn trong thời kỳ hoà bình. Nhưng có những nội dung hình thức biểu hiện và đặc điểm khác nhau. 
- Khi đấu tranh giai cấp phát triển thành cách mạng xã hội thì mọi mặt của đời sống xã hội phát triển với một nhịp độ chưa từng thấy - nhịp độ "một ngày bằng hai mươi năm". 
- Đấu tranh giai cấp là quy luật chung của mọi xã hội có giai cấp, song quy luật ấy có những biểu hiện đặc thù trong từng xã hội cụ thể. Điều đó do kết cấu giai cấp, do địa vị lịch sử của mỗi giai cấp trong từng phương thức sản xuất, do tương quan lực lượng giai cấp trong từng giai đoạn quyết định.

Giai cấp
Những người vô sản và những người cộng sản
_______________________________

GIAI CẤP LÀ GÌ?

Con hỏi bố:
– Bố ơi, phân chia giai cấp là gì hả bố?
Bố trả lời: …
– Lấy nhà mình làm ví dụ nhé. Bố kiếm tiền thì bố là giai cấp tư bản, mẹ lãnh đạo thì mẹ là chính quyền, con là nhân dân, còn em con là tương lai,
cô giúp việc nhà mình là giai cấp lao động.
Tối hôm đó, em bé ị đùn, cậu bé tìm mẹ thì mẹ đang ngủ say, sang phòng cô giúp việc thì thấy bố…
Sáng hôm sau, bố hỏi:
– Hôm qua bố giải thích thế con có hiểu không?
Con trả lời:
– Dạ con hiểu rồi. Giai cấp tư bản thì đè đầu cưỡi cổ giai cấp lao động, trong khi đó chính quyền ngủ say không biết gì, tương lai thì ngập trong… phân còn nhân dân thì bất lực. :))))))))))))))))))
http://truyencuoivietnam.org/truyen-cuoi-gia-dinh/gia-cap-la-gi/

_____________________

THẾ GIỚI ĐẠI ĐỒNG
- Ta và thế giới là hai mặt biện chứng. Tạo Hóa vốn không phân biệt, đó là lý lẽ của con người.
- Ý đồ và ý tưởng là hai mặt biện chứng.
- Chừng nào con người còn phải đặt nặng ý đồ định vị bản thân-thiết lập trật tự thế giới thì khi đó con người còn có ý tưởng phân biệt và xung đột.
- Chỉ khi nào chúng ta biết tri túc và hiểu được mối quan hệ tồn tại ta-thế giới thì khi đó ta mới thật sự biết từ bi hỉ xả, buông xả trước thế giới. Lòng tham gắn với sự vô minh luôn cản bước con người tiến tới nấc thang đại đồng đó.
- Từ một cuộc sống ban đầu khi coi toàn bộ phần còn lại của thế giới là thù địch, con người đã từng bước có những người bạn trong hoạt động trồng trọt và chăn nuôi của mình. Nấc thang đại đồng là nấc thang của sự cùng chung sống gắn kết hòa thuận.
- Hướng tới định vị bản thân là hướng tới cái Lý; hướng tới đại đồng là hướng tới cái Đạo. Cuộc sống là sự giằng xé trong khuôn khổ Đạo-Lý.
_______________________
- Mỗi con người là một tác phẩm do chính bản thân ta-thế giới tạo ra.
- Tạo Hóa thì không phân biệt một tác phẩm hay hay dở, nhưng con người thì có. Một tác phẩm được coi là một kiệt tác không quá quan trọng ở sự phức tạp, lòe loẹt của nó mà quan trọng là nó có toát ra được tâm hồn, sự tinh tế và thông điệp trí tuệ mà người nghệ sĩ muốn truyền tải.
_________________________
I.1. TĨNH THÔNG LINH

TĨNH - sống tĩnh tâm; THÔNG - suy nghĩ thông suốt; LINH - hành động linh tính. Tiền đề "sống tĩnh tâm" là cơ sở cho tiền đề "suy nghĩ thông suốt". Hai tiền đề trên là cơ sở cho tiền đề “hành động linh tính”. 

Theo từ điển Tiếng Việt: "linh tính là khả năng biết trước hoặc cảm thấy trước một biến cố nào đó xảy ra có liên quan mật thiết đến bản thân mình mà không dựa vào một phương tiện thông tin bình thường nào". Hành động linh tính là hành động căn cứ vào những "dự cảm" đó. Nó không phải là những dự cảm mang tính thần bí mà là những sự "mách bảo" của lý trí ở một trình độ nhận thức sâu thẳm, tinh tế - chỉ có ở những người sống tĩnh tâm và suy nghĩ đạt tới trình độ thông suốt.

Trước khi nghĩ tới các vấn đề khác của cuộc sống thì điều đầu tiên con người cần phải biết thích nghi với cuộc sống (thậm chí mọi giá trị cuộc sống nằm ngay trong quá trình thích nghi với cuộc sống). Để thích nghi với cuộc sống thì yêu cầu đặt ra đồng thời đối với con người là: về mặt lý tính, cần phải thấu hiểu cuộc sống; về mặt dục tính, cần phải nâng cao sức đề kháng trước cuộc sống. Cuộc sống vốn là vận động vô thường, do đó để luôn thấu hiểu cuộc sống thì đòi hỏi nhận thức con người cũng là một quá trình vận động vô thường. Con người nhận thức thế giới thông qua sự cảm nhận (rung động) bởi tất cả các cơ quan cảm giác của mình, cũng chình vì điều đó, việc cảm nhận (nhận thức) về cuộc sống sẽ mất đi tính khách quan khi mà rung động cảm xúc của con người trước thế giới mang tính chủ quan. Vì vậy, để nhận thức cuộc sống (thế giới) một cách khách quan thì điều đầu tiên yêu cầu con người phải tĩnh định lại tất cả những rung động cảm xúc hỗn loạn (chủ quan – vốn vận hành theo cơ chế khoái cảm) – đó là bước đầu tiên – “TĨNH”.

Tĩnh nhằm mục đích là lọc bỏ các tạp niệm (những ý niệm tạp nham), khi đó những ý niệm còn lại trong tâm trí sẽ là những ý niệm tinh túy nhất, sâu sắc nhất còn lắng đọng lại. Hành động của con người bị ràng buộc bởi ý niệm “đúng-sai”. Do vậy, loại bỏ ý niệm tạp nham sẽ giúp cho hành động linh hoạt theo những ý niệm thông suốt. Khi đã tĩnh định mọi rung động cảm xúc chủ quan thì cảm xúc của con người sẽ rung động theo tần số rung động của thế giới giới khách quan, thông qua rung động “tự nhiên” của mình thì con người sẽ nắm bắt được sự vận động “rung động” của thế giới xung quanh – đó là bước thứ hai – “THÔNG” (thông suốt, thấu hiểu).

Khi đã thông suốt về thế giới rồi thì con người sẽ đưa ra hành động thích nghi với thế giới theo đúng sự “rung động”, “tương tác” của thế giới lên mình, trên cơ sở đó sẽ đưa ra hành động phù hợp – đó là bước cuối cùng – “LINH” (linh tính). Phải linh tính vì đưa ra quyết định hành động có ý thức chỉ đưa ra sau khi “nhận thức”, do đó phải rút ngắn khoảng cách từ lúc nhận thức đến lúc hành động – vì vậy mà hành động đó gọi là hành động linh tính.

Ngoài việc không ngừng tập luyện, cọ xát, nâng cao sức đề kháng trước cuộc sống thì việc kết hợp với triết lý sống "Tĩnh - Thông - Linh" sẽ giúp con người giảm bớt tiêu hao sức lực lãng phí trong cuộc sống đầy "bon chen", "cọ sát" của mình - nâng cao "hiệu suất" (giá trị, ý nghĩa) cuộc sống.

Ý tưởng xuất hiện trong đầu chúng ta là một quá trình diễn biến, liên kết các sự kiện chứ nó không phải là một trạng thái nhận thức. Do vậy, để nắm được ý tưởng thì ta không chỉ phải ghi chép lại bởi nó có thể biến mất trong trí nhớ mà còn cần có một "quán tính tư duy" thường trực phù hợp để nắm bắt được đầy đủ ý tưởng chợt đến. Ý tưởng là trạng thái "hạt" của một quá trình sóng liên kết dữ liệu tạo ra sự xuất hiện và biến mất của nó. Có những cụm sóng ổn định thì tạo ra trạng thái "hạt" của nó thường xuyên giúp ta dễ dàng nắm bắt, có những trạng thái "hạt" vụt lên rồi nhanh chóng tan biến mất. "Tĩnh -Thông - Linh" là phương pháp để nắm bắt được những ý tưởng tinh tế nhất vẫn thường xuyên xuất hiện trong đầu của tất cả mọi người. Đối với nhiều người chúng ta, không cần quá tinh tế vẫn có thể duy trì được trạng thái tồn tại cuộc sống đang có. Nhưng nếu muốn giải thoát mình hay cải thiện hơn trạng thái cuộc sống đang có thì chỉ có sự tinh tế hơn mới tạo ra được chiếc chìa khóa mở ra một thế giới mới.

Càng tạo ra nhiều niềm vui khác nhau trong cuộc sống một cách tự phát thì ta càng đặt ra cho tiềm thức nhiều nhiệm vụ phải thực hiện nhằm "không để mất đi những gì tốt đẹp đã và đang có". Do vậy, tiềm thức phải không ngừng xử lý các thông tin từ nhiều hơn các mối đe dọa hay cơ hội khác nhau và đưa ra thông tin thực hiện mệnh lệnh hành động ứng phó. Tức thời, sức người không đáng kể. Càng phải xử lý nhiều dữ liệu, nhiều thông tin, nhiều mối đe dọa thì kết quả xử lý càng thiếu sự tinh xác, tinh lọc. Hậu quả còn dẫn tới sự căng thẳng, mệt mỏi, rối trí và do dự, bất an trong hành động. Phương pháp Tĩnh-Thông-Linh là một phương pháp giúp "tĩnh định" lại các cảm xúc trong cuộc sống, từ đó dẫn tới "thông suốt" trong nhận thức và "linh hoạt" trong hành động.

Tĩnh cõi tồn tại (LÝ); Thông cõi chết (ĐẠO); Linh cõi sống (giằng xé trong khuôn khổ ĐẠO-LÝ).

Tĩnh-Thông-Linh còn có nghĩa là tĩnh định để thông suốt đi vào thế giới tâm linh.
__________________________

- Kỳ vọng và thất vọng là hai mặt biện chứng.
- Hành động của con người tuân theo cơ chế tiềm thức - là sự phức hợp (thống nhất trong sự xung đột) giữa hai cơ chế: cơ chế khoái cảm (hưng phấn-ức chế) và cơ chế lý trí (đúng-sai).
- Chông chờ cũng là một dạng hành động. Với chủ trương chỉ nên hy vọng vào những thành quả mình gieo trồng, khi đó ta mới có một động lực bền bỉ và mạnh mẽ để bắt tay vào gieo mầm nhiều hơn nữa. Ngược lại, nếu cứ hy vọng sẽ được hưởng những gì không phải do mình gieo mầm thì không thể tránh khỏi tâm tưởng không ngừng bồn chồn, tìm kiếm và cầu may.
- Một cách tự phát, con người luôn có bản năng săn bắt, hái lượm hơn là gieo trồng và chăn nuôi.
- Lao động và gieo trồng ban đầu có thể khó nhọc, nhưng những thành quả gặt hái được sẽ khiến ta thêm tự tin và hy vọng vào những nỗ lực của bản thân. Ngược lại, săn bắt và hái lượm có thể mang đến cho ta những niềm vui nhất thời nhưng sẽ có nguy cơ trở thành gánh nặng của tương lai.
- Một người mà tìm được niềm hạnh phúc trong lao động và gieo trồng ở hiện tại thì họ sẽ không còn quá chông chờ vào kết quả - như là món quà dành tặng cho tương lai.

Lợi ích của việc đọc sách

Lợi ích của đọc sách
Sách là nguồn tri thức vô tận được viết bởi những người trí thức, họ muốn chia sẻ và lưu truyền cho thế hệ sau. Đọc những cuốn sách có nội dung tốt giúp bạn nâng cao nhận thức, hiểu biết và có thể biến đổi tâm hồn theo hướng tích cực hơn. Người thành công là người có thể vận dụng nhuần nhuyễn những kiến thức, kinh nghiệm học được từ sách vở vào công việc cuộc sống.



Từ hai bàn tay trắng, Andrew Carnegie đã có một sự nghiệp kinh doanh vô cùng đáng nể. Cách đây gần trăm năm, ông đã là tỷ phú đô la với những tài sản kếch sù.  Thông qua hệ thống sản xuất sắt thép khổng lồ của mình, Andrew Carnegie đã có những ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế lúc đó. Andrew Carnegie lớn lên trong một hoàn cảnh rất khó khăn. Ông vốn là người xứ Scotland, sinh năm 1835 tại vùng Dunfermlin. Vì mưu sinh, năm 1845 gia đình ông nhập cư vào Mỹ, là vùng đất hứa của không ít người châu Âu lúc bấy giờ. Andrew Carnegie không được đến trường như những đứa trẻ khác mà phải làm việc ngay từ nhỏ. Ông đã phải làm rất nhiều việc vượt qua cả sức của một cậu bé mới hơn 10 tuổi. Tuy vậy, Andrew là một cậu bé rất sáng dạ và đặc biệt ham học. Andrew Carnegie dành mọi thời gian rỗi để tự học, để học hỏi những người lớn tuổi hơn, hiểu biết nhiều hơn.
 
Ngay từ nhỏ, Andrew Carnegie đã có một niềm say mê đọc sách hiếm có. Ở chỗ làm, người ta vẫn thấy Andrew thường mang theo sách để đọc vào bất cứ thời gian rảnh rỗi nào. Bao nhiêu sách Andrew Carnegie đọc cũng hết. Không thể có tiền mua sách, Andrew lân la làm quen với tất cả những người có sách để mượn, để xin sách. Ngay từ lúc bấy giờ, nếu đến nhà Andrew, chắc ai cũng phải ngạc nhiên về cái thư viện sách khá phong phú của một chú thợ nghèo.

Khi đã thành đạt, Andrew Carnegie từng nói với nhiều người, những tri thức và hiểu biết của ông đều do tự đọc và tự học qua sách mà có cả. Có lẽ chính vì vậy mà Andrew Carnegie là người yêu sách vô cùng. Lúc bé, ông rất trân trọng cái thư viện gia đình nhỏ của mình và ao ước có một thư viện lớn hơn. Chính vì vậy mà khi đã thành danh, trở thành một nhà doanh nghiệp nổi tiếng, là người cực kỳ giàu có, Andrew Carnegie đã hiến rất nhiều tiền để xây dựng thư viện ở khắp nơi. Có lẽ không có ai có công quyên góp và hiến tặng nhiều thư viện như Andrew Carnegie.

Thư viện đầu tiên, đương nhiên, ông xây dựng tại quê nhà Dunfermline xứ Scotland với giá trị 8.000 USD(một khoản tiền rất lớn thời đó). Sau đó thì liên tục năm nào ông cũng hiến tặng hay chủ động quyên góp xây dựng thư viện ở khắp nơi trên đất Mỹ, Anh, Island, rồi cả ở Canada, Australia... Tổng cộng trong suốt cả đời mình, Andrew Carnegie đã hiến tặng hoặc góp tiền để xây dựng toàn bộ hoặc một phần cho hơn 2.000 thư viện lớn bé khác nhau.

Sáng dạ và cần cù tự học, Andrew Carnegie được ông chủ xưởng dệt cho thôi làm thợ mà chuyển sang làm sổ sách cho công ty. Và chàng trai trẻ, cần cù Andrew đã làm hơn tất cả những gì mà ông chủ mong đợi ở cậu. Nhờ đọc sách và tự học Andrew Carnegie đã biết làm kế toán kép và phân tích tình hình tài chính và kinh doanh thông qua những con số kế toán. Andrew Carnegie đã có những kiến thức phân tích kinh doanh thực tiễn từ đó. (Trích từ Vietbao.vn)

Khi còn đi dạy đại học, tôi có quen với một vị giáo sư mà ai tiếp xúc cũng đều ngưỡng mộ kiến thức uyên bác của thầy. Có lần tôi hỏi làm sao thầy có được vốn kiến thức khổng lồ như vậy. Thầy bảo kiến thức mà thầy có được từ nhiều nguồn: tự bản thân chiêm nghiệm từ cuộc sống, từ thầy cô, ông bà cha mẹ và những người xung quanh nhưng phần lớn là nhờ đọc sách. Trung bình mỗi tuần đọc một cuốn sách, mỗi năm đọc được khoảng 50 cuốn, vậy sau 10 năm thầy đọc được 500 cuốn sách. Kiến thức của thầy đúc kết từ 500 cuốn sách được viết bởi những người có kiến thức sâu rộng.

Khi tôi yêu cầu người thân hay bạn bè nên thường xuyên đọc sách sẽ có lợi cho kinh nghiệm, kiến thức  và quan điểm sống thì phần lớn đều trả lời là họ không có thời gian. Họ nói rằng họ vô cùng bận rộn, không có thời gian rảnh nói chi đến việc đọc sách. Nếu mỗi ngày bạn giảm bớt thời gian xem tivi và những điều vô bổ thì bạn hoàn toàn có thừa thời gian để đọc sách. Bên cạnh đó, chúng ta có thể nghe sách nói trong thời gian ngồi xe để di chuyển đến chỗ làm và thời gian về.

Tất cả các bậc thánh hiền, nhà hiền triết, những học giả có kiến thức uyên thâm, phần lớn là do họ thường xuyên đọc sách. Đối với họ, sách là tài sản vô giá, là món ăn tinh thần không thể thiếu và đôi lúc là vật bất li thân. Tuy nhiên đọc sách cũng phải có phương pháp, phải có nghệ thuật, phải hết sức tập trung và phải có mục đích rõ ràng. Cần tránh xa những thói quen vô bổ như: đọc sách để giết thời gian, đọc sách để dỗ giấc ngủ, tuy vẫn thu được kết quả như mong đợi “giết thời gian, ngủ được” còn kiến thức thì gần như không có. Có nhiều người đọc sách mọi lúc mọi nơi, đọc bất cứ tài liệu gì có thể nhưng cũng chẳng nâng cao kiến thức hay kinh nghiệm gì mấy. Bởi vì họ không tập trung, không có chủ đích khi đọc sách. Đọc hết trang, hết chương hay hết sách nhưng không biết mình đang đọc gì? Ý của tác giả muốn gửi đến là gì? 
 
Đọc sách không những cần tập trung hết tâm huyết vào điều mình đang đọc mà còn phải có chính kiến của riêng mình. Phải thấu hiểu, phân tích ý kiến của tác giả để biết đâu là đúng, đâu là sai. Vì tác giả cũng là người chứ không phải thần thánh nên không tránh khỏi những thiếu sót. Đọc sách mà tin tưởng tuyệt đối vào sách thì khỏi đọc còn hơn.
 
(Trích từ sách Thấu hiểu Phát triển Bản thân)

Lợi ích của việc đọc sách
http://www.thauhieuvaphattrien.com/tintuc/2469/Loi_ich_cua_doc_sach

 

BIẾT MÌNH HIỂU NGƯỜI

Sau khi đã đọc phần diễn-tả loại tính-tình của bạn và một vài loại tính tình khác, bạn có thể đặt những câu hỏi như đâu là nền-tảng cho bảng chia loại tính-tình này cũng như bảng phân-loại của Myers-Briggs? Jung hiểu thế nào khi dùng những chữ hướng-ngoại (E: Extrovert), hướng nội (I: Introvert), cảm-giác (S: Sensation), trực-giác (N: iNtuition), suy-tư (T: Thinking), tâm-tình (F: Feeling), nhận-thức (P: Perceiving), phán-đoán (J: Judging).
Trước hết chúng ta nên nhớ: Carl Jung không nói rằng một người chỉ là một trong các cặp tính-tình đó. Đúng ra, mỗi người có thể hướng-ngoại một phần và hướng-nội một phần, suy-tư một phần và tâm-tình một phần.
Thứ đến, Jung không nói rằng người ta không thể thay đổi khuynh-hướng này qua khuynh-hướng khác. Với thời-gian, khuynh-hướng này có thể mạnh lên, khuynh-hướng kia có thể yếu đi.
Điểm thứ ba: chưa có giải-quyết dứt-khoát về vấn-đề tranh-luận xem khuynh-hướng nào có từ khi bẩm-sinh, hay là phát-hiện tình-cờ thời thơ-ấu. Jung tin rằng đó là khuynh-hướng bẩm-sinh, cho dù ông không dám quả-quyết rõ ràng về vấn-đề này. Theo Jung, dù là bẩm-sinh hay do lựa chọn sau này, những hành-động đó phát-triển và trở nên mạnh mẽ hơn nhờ việc năng sử-dụng. T.d. một người năng sử-dụng trực-giác nhiều, trực-giác sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, một người dùng tâm-tình nhiều hơn, tâm-tình sẽ trở nên mạnh mẽ hơn. Đảo lại, một người không dùng suy-tư và phán-đoán hoặc bất cứ khuynh-hướng nào khác, khuynh-hướng đó cũng không phát-triển được và giống như bị cùn, rỉ sét đi vậy. Đây là một giả-thuyết đáng được nghiên-cứu thêm.
Dù sao điều quan-trọng về cách Jung phân-loại tính-tình là những lối diễn-tả cách-thức người ta hành-động khác biệt với nhau làm sao, chứ không phải việc chọn từ-ngữ đúng hay không đúng cho những khác biệt này.

A.) HƯỚNG-NGOẠI và HƯỚNG-NỘI
Người nào coi người khác như nguồn năng-lực của mình, có lẽ đã đi theo khuynh-hướng hướng-ngoại, còn người nào thích yên-tĩnh trầm-lặng, để lấy lại sinh-khí, có lẽ đã đi theo khuynh-hướng hướng-nội. Hướng-ngoại được viết tắt là E do chữ Extraversio (quay ra ngoài), còn hướng-nội được viết tắt là do chữ Introversio (quay vào trong) của các ngôn-ngữ gốc La-mã.
1.- nguồn gốc gây hiểu lầm
Những người hướng-ngoại có nhu-cầu tiếp-xúc ngoại-giao, có vẻ như được thêm nghị-lực, được sung-súc khi có người khác liên-hệ. Họ thêm nghị-lực khi nói chuyện, chơi dỡn, làm việc với người khác. Người hướng-ngoại chỉ cảm thấy cô-đơn khi không được tiếp-xúc với người khác. Người hướng-ngoại cực-đoan vừa dự tiệc tiếp-tân này xong là y như đã sẵn sàng chuẩn-bị đi dự tiệc tiếp-tân khác. Máy phát điện của họ hầu như lúc nào cũng đầy nhiên-liệu tới mức tối-đa.
Trong khi người hướng-ngoại dễ cởi mở xã-giao bao nhiêu thì người hướng-nội lại đóng khung gò bó bấy nhiêu. Họ chỉ muốn có chỗ đứng riêng, trong tâm-trí cũng như trong không-gian. Người hướng-nội hình như chỉ tìm được nghị-lực từ một nguồn suối khác với người hướng-ngoại. Họ theo đuổi những hoạt-động đơn-độc, làm việc một mình âm-thầm, đọc sách, suy-niệm, tham-dự vào các sinh-hoạt chỉ đòi hỏi một nhóm ít người. Đó là những cách người hướng-nội thêm nghị-lực. Vì thế, nếu như một người hướng-nội đi dự tiệc liên-hoan, chỉ sau một thời-gian ngắn, họ đã nghĩ là đủ rồi và tìm đủ mọi cách để kiếu-từ ra về. Đối với họ, như vậy là tham-dự đủ rồi. Họ không phải là loại người làm cho bữa tiệc trở nên chán ngán, nhưng chính họ chán ngán bữa tiệc.
Người hướng-nội dễ cảm thấy lẻ loi đơn-độc khi ở giữa đám đông. Đám đông càng lớn, họ càng cảm thấy lẻ loi đơn-độc, nhất là khi có những người xa lạ, như khi ở phi-trường, bến xe đông người, hoặc ở đám tiệc có lắm người đi qua đi lại nhộn nhịp. Như thế không có nghĩa là người hướng-nội không thích có bạn bè chung quanh. Người hướng-nội cũng muốn có những liên-hệ với người này người khác, nhưng những liên-hệ đó làm cho họ mất nghị-lực, không giống như người hướng-ngoại. Người hướng-nôïi cần phải tìm cho được một chỗ yên-lặng thanh vắng để tìm lại nghị-lực, trong khi những nơi chốn như vậy sẽ làm cho người hướng-ngoại mất sức. Nếu người hướng-ngoại phải vào thư-viện để nghiên-cứu một vấn-đề gì, họ có thể phải huy-động ý-chí để cố-gắng không tìm dịp nói chuyện với người quản-thủ thư-viện.
psycho
Đối với người hướng-nội thì hoàn toàn ngược lại: họ chỉ có thể tiếp-xúc với người khác trong khi họ chưa hết nghị-lực mà thôi. Một vấn-đề phải được đặt ra là: phải chăng người hướng-ngoại không có khuynh-hướng hướng nội, và người hướng-nội không có khuynh-hướng hướng-ngoại? Dĩ nhiên là có, tuy nhiên thái-độ và khuynh-hướng mãnh-liệt hơn, dù là hướng-nội hay hướng-ngoại, cũng sẽ có ảnh-hưởng nhiều hơn và khuynh-hướng kia sẽ bị giảm bớt đi. Thái-độ mãnh-liệt hơn sẽ được biểu-lộ nơi hành-vi ý-thức của con người và sẽ ảnh-hưởng tới mục-đích, ý-chí, hoạt-động của con người ý-thức. Khuynh-hướng yếu kém hơn chỉ có một phần nào trong ý-thức và chỉ ảnh-hưởng tới những gì tình-cờ ngẫu-nhiên xẩy đến. Khuynh-hướng yếu kém này sẽ không phát-triển được và ít có ảnh-hưởng trên tính tình của con người, và thường chỉ ở trong tình-trạng sơ-khai chớm nở thôi. Jung còn chủ-trương rằng nếu người mẹ bắt ép đứa con sống theo khuynh-hướng yếu kém đó, sau này khi đứa con lớn lên sẽ bị nhiều khó khăn trở ngại.
Theo như nhận-định của K. Bradway, 1964 thì có chừng 75% người thuộc loại hướng-ngoại và 25% người thuộc loại hướng-nội. (Theo như chúng tôi nhận-định, có lẽ Việt-nam là 30%-40% hướng ngoại và 70%-60% hướng nội).Thực vậy nền văn-hóa Âu-Mỹ đề-cao con người cởi mở, xã-giao, biết cách ăn nói, có tinh-thần tập-thể, còn những ai thích yên lặng trầm-tĩnh thì bị coi như là khó tính, không thân-thiện. Người ta coi những hoạt-động đơn-độc chỉ là cách câu giờ, chờ-đợi những gì tốt đẹp hơn sẽ đến, và tốt đẹp đây có nghĩa là giao-tiếp liên-hệ giữa người với người. Chính vì thế người hướng-nội bị coi như chim lạc đàn trong một đám đông chỉ thích xã-giao và tiếp-xúc liên-hệ. Một bà mẹ đã phản-đối lời nhận xét coi cô con gái cưng của bà là người hướng-nội như sau: “Nó không phải là người hướng-nội, vì nó dễ thương lắm”. Con người hướng-nội cho biết rằng đa-số trong mẫu người này nhận thấy họ cần phải tiếp-xúc xã-giao nhiều hơn, nhưng vì họ không thể tự mình làm được như vậy , nên muôn đời họ vẫn chỉ là những con chim chưa ra ràng trong xã-hội muôn mầu, họ không bao giờ đủ lông đủ cánh để bay bổng tới trời cao của người khác. Hậu-quả tất-nhiên là ít khi họ dành để cho họ đủ chỗ để thở mà không cảm thấy mặc-cảm tội lỗi một chút.
2.- những chữ mồi quan-trọng
Chữ quan-trọng nhất để phân-biệt người hướng-ngoại là giao-thiệp tiếp-xúc, người hướng-nội là đóng kín một mình. Điều hấp-dẫn nhất cho người hướng-ngoại là chiều ngang, đi tới người khác, cho người hướng-nội là chiều dọc, đi lên cao hoặc đào sâu một vấn-đề. Người hướng-ngoại quan-niệm những gì bên ngoài, ngoại-tại, người hướng-nội quan-niệm những gì bên trong, nội-tại. Người hướng-ngoại để ý tới lượng, người hướng-nội để ý tới phẩm. Người hướng-ngoại để ý tới liên-hệ, phản-ứng, người hướng-nội để ý đến chủ-điểm, mục-đích. Người hướng-ngoại muốn có càng nhiều giao-tiếp liên-hệ càng tốt, người hướng-nội hạn-chế tối-thiểu những xã-giao tiếp-xúc. Người hướng-ngoại sử-dụng nghị-lực, người hướng-nội tìm cách tiết-kiệm. Người hướng-ngoại thích để ý đến những gì xẩy ra bên ngoài, người hướng-nội chú ý tới những gì diễn-tiến bên trong.

B.) TRỰC-GIÁC và CẢM-GIÁC
Người có khuynh-hướng thiên về cảm-giác tự nhận mình có óc thực-tế, trong khi đó người có khuynh-hướng thiên về trực-giác coi mình có nhiều sáng-tạo. Theo như Bradway nhận-định năm 1964, có 75% thiên về cảm-giác (viết tắt S: sensatio), và 25% thiên về trực-giác (viết tắt N: intuitio)
1.- nguồn gốc gây hiểu lầm
Hướng-ngoại và hướng-nội là hai khuynh-hướng quan-trọng giúp chúng ta hiểu những khác-biệt giữa ta với người, nhất là những người sống chung quanh, nhưng trực-giác và cảm-giác còn quan-trọng hơn nhiều, vì đây là những đường lối khác-biệt về cách nhận-định và suy-tư. Đường lối trực-giác và cảm-giác là nguồn của đa-số những hiểu lầm, ngộ-nhận, hiểu xấu, ý xấu, nghĩ xấu. Sự khác-biệt giữa cảm-giác và trực-giác tạo nên khoảng cách lớn lao giữa người với người. Thực vậy, Kretschmer nhận thấy sự khác-biệt này quá lớn lao, nên đã phân-chia tính-tình thành hai loại bộc-trực (schizothyme) và mẫn-cảm (cyclothyme). Người bộc-trực có thể là nhạy cảm hoặc lạnh cảm, ý-thức hoặc vô-ý-thức, còn người mẫn-cãm có thể là dễ vui dễ buồn, lạc-quan hoặc bi-quan. Ông cho đó là nền-tảng của những khác-biệt về tính-tình, còn Jung lại chỉ coi đó là 1 trong 4 khuynh-hướng khác biệt nền-tảng.
Người có khuynh-hướng cảm-giác muốn có sự-kiện đàng-hoàng, tin-tưởng và ghi nhớ các sự việc đã xẩy ra. Họ tin vào kinh-nghiệm, và hiểu biết nhờ kinh-nghiệm lịch-sử, kinh-nghiệm cá-nhân cũng như kinh-nghiệm quần-chúng. Con người của họ vừa được mô-tả như dính liền với trái đất, đi sát với thực-tế, gần đất và xa trời. Khi con người cảm-giác nói chuyện, họ thích nói về kinh-nghiệm, về quá-khứ, t.d. khi phỏng-vấn người xin việc, họ sẽ hỏi đầy đủ chi-tiết về kinh-nghiệm việc làm trong quá-khứ. Đối với họ, đây thật là một điều quan-trọng, vì quá-khứ làm việc tốt sẽ bảo-đảm cho tương-lai biết làm việc kết-quả. Ngược lại, người trực-giác không quan-tâm đến dĩ-vãng của người xin việc, nhưng lại muốn cái nhìn về tương-lai, hướng đi mới của người muốn làm việc, xem người này có thể làm gì để giúp cho hãng mở mang, cho công việc phát-triển, cho giải-quyết một vấn-đề.
Người cảm-giác để ý đến công việc hiện-tại và tìm cách đối-phó. Họ đặt trọng-tâm vào việc đang hoặc sẽ xẩy ra, hơn là lo lắng về những gì biết đâu có thể xẩy ra trong tương-lai. Họ sống trong thực-tế, và họ không muốn làm một công việc gì coi như vô-nghĩa. Họ nhận xét chi-tiết rất tinh-vi chính-xác sâu-sắc, có lẽ bởi vì khi họ để ý tới một cái gì, con mắt của họ thường để ý đến một vài chi-tiết đặc-biệt. Người trực-giác thì lại khác: khi họ tìm hiểu một hoàn-cảnh nào, họ nhìn ngắm, đắn-đo, suy-nghĩ, tìm tòi để xem có những gì liên-hệ tới điều mà họ đang để ý, chứ không màng tới những chi-tiết như người cảm-giác thường nhận ra.
Người trực-giác dùng loại ngôn-từ không có ảnh-hưởng gì tới người cảm-giác. Người trực-giác thích nói những lời bóng bẩy, dùng những hình ảnh sống động. Họ hay thích mơ mộng, ngâm thơ, yêu giả-tưởng và ảo-giác, coi việc nghiên-cứu chiêm-bao là thú-vị. Người trực-giác hành-động y như là một người từ tinh-tú xa xôi, như một phi-hành-gia trong không-gian đi thám-hiểm những gì vượt quá hiện-tại và quá-khứ. Trí tưởng-tượng của họ bị thu hút bởi những gì có thể xẩy ra trong tương-lai. Mà bởi lẽ đầu óc của họ chỉ thích đi trên mây, dạo trên cung trăng, nên người trực-giác dễ bị sai lầm lớn về các sự-kiện hơn là người cảm-giác, vì người cảm-giác để ý nhiều hơn về những gì xẩy ra cho mình. Người trực-giác nhìn thấy cuộc sống chạy vòng quanh, vượt qua núi đồi, xa hơn nhãn-giới chân trời chúng ta đang sống. Họ có thể ngồi hằng giờ hằng ngày để suy-nghĩ về những gì có thể xẩy ra. Họ hành-động theo chiều hướng tương-lai, biết nhìn đường cong hơn là đường thẳng, và biết được cả cõi vô-thức nữa. Người trực-giác có khi nhận thấy tư-tưởng đến với họ như một hệ-thống toàn bộ, mà họ không thể giải-thích nổi tại sao họ biết được như vậy. Đây là những viễn-tượng, những trực-giác, những sáng-kiến ta gặp thấy trong bất cứ một lãnh-vực nào như kỹ-thuật, khoa-học, toán, triết-lý, nghệ-thuật, và sinh-hoạt xã-hội.
Dĩ nhiên người cảm-giác cũng có trực-giác và sáng-kiến, nhưng họ không để ý tới bao nhiêu, và qua nhiều năm không sử-dụng hoặc coi thường, trực-giác của họ chỉ còn là một tiếng kêu trống rỗng. Hậu-quả là tiếng nói âm-thầm của trực-giác bị giảm-thiểu, không còn nghe thấy được nữa. Rút cục người trực-giác giầu tưởng-tượng dễ quên đi thực-tại của cuộc sống và khó thích-ứng với những thực-tế chung quanh họ.
Người trực-giác sống trong chờ đợi, phỏng-đoán. Đối với họ, cái gì hiện-tại cũng có thể khác hoặc khá hơn, và hiện-tại chỉ là một chỗ dừng. Do đó người trực-giác thường cảm thấy bực tức một cách vô-lý, áy náy bồn chồn một cách vu vơ. Hình như họ khó chịu vì thực-tại, nên họ chỉ tìm cách thay đổi hoặc cải-tiến thực-tại.
Người trực-giác có thể chạy từ hoạt-động này tới hoạt-động khác mà có khi rút cục chẳng hoàn-tất được hoạt-động nào cả. Năm 1923, Jung mô-tả người trực-giác như một nhà nông trồng lúa nơi cánh đồng này rồi chạy tới cánh đồng khác, chẳng chịu đợi cho lúa trổ bông nẩy hạt. Thay vì chờ đợi công khó của họ thành-tựu, họ vội vã lên đường đi tìm một cánh đồng mới để khởi-sự nữa, trong khi đó người khác đến đúng lúc có thể được hưởng hoa mầu của sáng-kiến người trực-giác đã dầy công gieo rắc vun trồng. Vì thế đối với người cảm-giác, người trực-giác bị coi như là hay thay đổi, không thực-tế, không thiết-thực. Đảo lại có lúc người trực-giác coi người cảm-giác như trì-trệ chậm chạp, không biết hướng về tương-lai, không biết tạo nên cơ-hội thuận-tiện.
Sự khác biệt giữa người trực-giác và người cảm-giác trở nên rõ ràng nhất trong cách thức nuôi con. Nếu cả hai cha mẹ đều là người trực-giác, họ sẽ khó chịu khi thấy đứa con không chịu mơ mộng, tưởng-tượng, thả hồn theo mây gió, hoặc không thích nghe chuyện thần-thoại. Cha mẹ trực-giác chỉ muốn cho con cái tìm cách phát-triển óc tưởng-tượng hằng ngày. Đối với người trực-giác cực-đoan, không có gì quý giá hơn là óc tưởng-tượng phong-phú.
Ngược lại, hai cha mẹ cảm-giác sẽ lo lắng khi thấy đứa con chỉ mơ mộng viển vông mất thời giờ. Họ tin rằng mỗi người phải trở nên hữu-dụng, khi còn trẻ phải dùng thời-giờ chơi thể-thao, hoạt-động ngoài trời, khi lớn lên phải làm việc.
2.- những chữ mồi quan-trọng
Nếu lắng nghe lời mỗi người nói, chữ mỗi người lựa chọn, ta có thể nhận thấy tính-tình khác biệt. Mỗi người đều để biểu-lộ phát-hiện ra một hệ-thống giá-trị qua chữ viết và lời nói, giọng nói điệu-bộ nhấn mạnh.
Người cảm-giác thích dùng những chữ kinh-nghiệm, hay nói đến túi khôn của người xưa, và muốn tỏ ra óc thực-tế, trong khi người trực-giác nhấn-mạnh đến sáng-kiến, cái nhìn về tương-lai, và có tính cách suy-tư. Người cảm-giác lệ-thuộc vào việc làm, kinh-nghiệm, còn người trực-giác tùy-thuộc vào sáng-tạo, ý-kiến mới. Người cảm-giác thích dùng những chữ như hiện-tại, thực-tế, có lý, sự thực, hữu-dụng, còn người trực-giác thích dùng những chữ như có thể, hấp-dẫn, sáng-tạo, giầu tưởng-tượng, nhiều khả-năng.

C.) SUY-TƯ và TÂM-TÌNH
Jung gọi là loại suy-tư (T viết tắt của chữ Thinking), những người dùng tiêu-chuẩn khách-quan vô-tư khi phải lựa chọn quyết-định, còn những người theo chủ-quan và ý riêng mình là loại tâm-tình (F viết tắt của chữ Feeling). Cả hai khuynh-hướng lựa chọn quyết-định đều cần-thiết và hữu-ích. Vấn-đề chỉ là người này thích thế này, người kia ưng kiểu kia. Có người thích nhận-định một cách khách-quan, vô-tư, và khó chịu với những ý-kiến riêng tư. Người khác lại thích những phán-đoán theo cảm-tình, thiên-kiến, và không quan-tâm bao nhiêu tới giá-trị của lý-luận. Người tâm-tình quá-khích sẽ không hài-lòng với những lựa chọn tựa theo lề-luật, vì coi như thế là khắt khe, dã-man, vô-nhân-đạo. Người suy-tư cực-đoan sẽ coi những quyết-định tựa theo tình cảm là hời hợt, giả-trá, mau qua. Thực ra ai cũng có thể quyết-định theo suy-tư hoặc tâm-tình, nhưng vấn-đề chỉ là thích hoặc không thích cách này hoặc cách khác, lúc này lúc kia thôi.
1.- nguồn gốc gây hiểu lầm
Đa-số phái nữ (chừng 60 trong 100 người) cho biết họ thích quyết-định theo ý-muốn cá-nhân, theo tâm-tình: họ nghiêng về phía ‘tình’ hơn ‘lý’. Ảnh-hưởng văn-hóa mỗi dân-tộc lại có thể khác hơn nữa. (Người Việt-nam có lẽ sẽ nhiều ‘tình’ hơn ‘lý’: có thể tới 70%-80%). Đa-số phái nam (chừng 60 trong 100 người) cho biết họ thích quyết-định theo nguyên-tắc, luật-lệ, một cách khách-quan và hữu-lý. Như thế phái nam nghiêng về phía ‘lý’ hơn, và phái nữ nghiêng về phía ‘tình’ hơn, cho dù sự khác biệt phái-tính này không rõ ràng bao nhiêu, và khó có thể nhờ đó mà đoán trước hành-động của mỗi người. Hai khuynh-hướng suy-tư và tâm-tình có mang mầu sắc phái-tính nam nữ (Myers, 1963), và chia nhau đồng đều mỗi bên một nửa (Bradway, 1964).
Người tâm-tình có lúc cho rằng loại người suy-tư là cứng dắn, chai đá, lạnh nhạt, lì lợm, xa cách, chỉ biết suy-tư trong đầu óc, trên sách vở mà không biết hiền-hòa từ-tốn. Trong khi đó người suy-tư lại cho rằng người tâm-tình dễ yếu đuối, mềm lòng, thiếu ý-chí nghị-lực, không biết suy-nghĩ chín chắn, không hiểu căn-bản luận-lý, mau nước mắt. Hiểu lầm sẽ xẩy đến khi một người tâm-tình và một người suy-tư cùng phải quyết-định ngược lại với thói quen của họ, làm cho họ khó chịu., t.d. người vợ tâm-tình muốn người chồng suy-tư phải bộc-lộ tâm-sự tình-cảm của chàng, trong khi chàng lại ước sao cho nàng biết suy-luận có lý một chút. Dĩ nhiên chẳng có cách lựa chọn nào đáng chê cả.
Người tâm-tình có lợi-điểm hơn người suy-tư trong việc chấp-nhận và phát-triển những gì họ không thích. Học-đường là môi-trường thích-hợp phát-triển khả-năng suy-tư hơn là biểu-lộ tâm-tình, nên chi người tâm-tình đi học có cơ-hội làm triển nở khả-năng suy-tư của họ, còn người suy-tư đi học ít có cơ-hội làm triển nở lãnh-vực tâm-tình, do đó nên lãnh-vực tâm-tình của họ vẫn chỉ ở giai-đoạn phôi-thai.
psycho
Đôi khi người tâm-tình coi bộ ra vẻ nhiều tình-cảm dễ xúc-động hơn người suy-tư, nhưng thực-tế không hoàn toàn đúng như vậy. Cả hai loại người đều có thể dạt dào tình-cảm và tâm-tình chứa chan.
Người tâm-tình có khuynh-hướng biểu-lộ tình-cảm của mình ra bên ngoài và người ta có thể coi họ như con người thân-mật, đầy tình-cảm đậm đà hơn người suy-tư. Khi một người tâm-tình xúc-động, như khi tay họ toát ra mồ hôi, khi họ đổi sắc mặt, khi thân mình rung động, khi tim đập mạnh hơn và nhanh hơn, hoặc khi họ không còn làm chủ được con người của chính mình nữa, người khác dễ bị ảnh-hưởng lây. Những rung động tình-cảm của người tâm-tình có phản-ứng dây chuyền và tạo nên ảnh-hưởng nơi người khác. Còn khi người suy-tư xúc-động, ít thấy gì thay đổi nơi con người của họ, và người khác cũng khó nhận xét được. Chính vì thế mà người suy-tư được mô-tả là ‘lạnh như tiền’, ‘khô như ngói’, ‘cứng như đá’, cho dù trên thực-tế họ cũng có thể có những tâm-tình sâu-đậm y như người tâm-tình. Có khi người suy-tư cảm thấy xấu-hổ vì có cảm-xúc mãnh-liệt, trong khi đó người tâm-tình có khi lại lấy làm vui vì cảm-xúc tràn trề.
Trong liên-hệ giao-tiếp giữa người với người, khi phải lựa chọn quyết-định, sự khác biệt giữa đường lối suy-tư và đường lối tâm-tình không tạo nên nhiều khó khăn lắm, một khi đã hiểu biết và nhận chân giá-trị của mỗi đường lối. Thực ra hai người với hai đường lối khác biệt về suy-tư và tâm-tình này có thể bổ-túc cho nhau hơn là những cặp khuynh-hướng khác, t.d. hướng-nội và hướng-ngoại, trực-giác và cảm-giác dễ tạo nên nhiều hiểu lầm hơn là bổ-túc cho nhau. Người tâm-tình cần người suy-tư để nhìn thấy một đường lối mới, và đảo lại người suy-tư cần người tâm-tình để hiểu thêm một cách-thức khác. Một khi người tâm-tình hiểu được rằng người suy-tư cũng có những tâm-tình sâu xa, cho dù họ không biểu lộ ra, và một khi người suy-tư biết cho rằng người tâm-tình cũng có khả-năng lý-luận rành mạch, cho dù họ không diễn-tả ra được bằng ngôn-từ chính-xác, lý-do để hiểu lầm sẽ không còn nữa.
2. những chữ mồi quan-trọng
Người suy-tư T thích quyết định theo đường lối vô-tư, thích dùng những chữ như khách-quan, nguyên-tắc, chính-sách, chủ-trương, luật-lệ, tiêu-chuẩn, cương-quyết; trong khi người tâm-tình F muốn lựa chọn theo sở-thích riêng tư cá-nhân, lại thích dùng những chữ như chủ-quan, giá-trị, trường-hợp gia-giảm, môi-trường, hoàn-cảnh, xã-hội, cộng-đồng, tình-thân, thuyết-phục. Khi đối-phó với người khác, với dự-án kế-hoạch, người suy-tư T có khuynh-hướng dùng phương-pháp tổng-luận, còn người tâm-tình F lại dùng phương-pháp cá-biệt. Người suy-tư thích những chữ công-lý, phê-bình, tiêu-chuẩn, chỉ-tiêu, phân-tích; còn người tâm-tình ưa dùng những chữ nhân-đạo, hoà-hợp, tốt xấu, thiện-cảm, quý-trọng, dấn-thân. Người suy-tư đặt ưu-tiên vào các tiêu-chuẩn khách-quan, và có tài lý-luận, thuyết-phục người khác theo quan-điểm của họ, bằng lý-luận hơn là tình-cảm. Người tâm-tình có tài thuyết-phục người khác và lựa chọn quyết-định vì ảnh-hưởng của người chung quanh.

D.) PHÁN-ĐOÁN và TRI-THỨC
Vấn-đề: muốn mọi sự kết-thúc dàn xếp đàng hoàng hay muốn để linh-động tuỳ nghi?
Người nào muốn mọi sự kết-thúc dàn xếp đâu vào đó hơn là để tuỳ nghi linh-động, chính là mẫu người thuộc loại phán-đoán J, còn người nào có khuynh-hướng để mọi sự tuỳ nghi linh-động, chính là mẫu người thuộc loại tri-thức P. Người phán-đoán J chỉ muốn làm sao để đưa vấn-đề tới kết-thúc, và chỉ khi nào quyết-định xong đâu vào đó rồi họ mới cảm thấy yên lòng. Ngược lại, người tri-giác cảm thấy ái-ngại mỗi khi phải quyết-định một điều gì, vì họ chỉ muốn sao cho thu thập được thật nhiều sự-kiện, càng nhiều càng tốt. Do đó khi người tri-giác quyết-định một điều gì, họ tỏ ra bối rối, do dự, khó chịu, còn người phán-đoán cảm thấy thoải mái an-tâm.
Người phán-đoán có khuynh-hướng thiết-lập thời-biểu, ấn-định giờ giấc, và họ muốn mọi người phải làm y như vậy. Người tri-giác có khuynh-hướng coi thời-biểu y như một chiếc đồng-hồ báo thức, reo hay không reo là tuỳ người ta có ấn nút hay không, và họ coi thời-biểu chỉ là để nhắc nhở ta phải làm việc hơn là bắt buộc phải hoàn-tất việc đó.
Ta có thể quan-sát một hiện-tượng kỳ-lạ này là khi nào người tri-giác P có nhiệm-vụ giữ đúng hẹn với người trên, họ không tin được người khác giữ đúng giờ, nên họ thường hẹn sớm hơn giờ họ tính toán. Trong khi đó, người phán-đoán J chỉ bảo cho người khác biết giờ khắc đàng hoàng và muốn mọi người phải theo đúng giờ khắc đó một cách nghiêm-chỉnh.
Chúng ta dễ dàng nhận thấy sự khác-biệt giữa người phán-đoán và người tri-thức trong trường-hợp cực-đoan. Rất tiếc là Jung không ấn-dịnh rõ ý-nghĩa của mấy chữ phán-đoán và tri-thức. Phán-đoán có nghĩa là có một quyết-định, một kết-luận, còn tri-thức có nghĩa là biết, là ý-thức. Định-nghĩa như trên chỉ là để tránh né một số quan-niệm mơ hồ về phán-đoán và tri-thức. Rất may là Jung có những nhận xét tinh-vi về cách hành-động của hai loại tính tình này mà không bị lệ-thuộc về đường lối suy-tư của ông, nên chúng ta có thể phát-hiện và mô-tả hai loại tính tình này mà không bị chi-phối vì quan-niệm của ông.
1.- nguồn gốc gây hiểu lầm
Bradway, 1964, cho biết hai loại tính tình này phân-chia đồng đều mỗi bên một nửa. Chính vì vậy mà dễ gây nên bực tức khó chịu: người phán-đoán J muốn đi tới quyết-định, còn người tri-thức P cứ dùng dằng trì-hoãn, chẳng chịu dứt-khoát. Ngoài ra, những chữ phán-đoán và tri-thức dễ gây ngộ nhận. Phán-đoán dễ đi đôi với thiên-kiến, tri-thức dễ được coi là tri-giác. Thực ra, người phán-đoán cũng có thể chẳng có nhiều thiên-kiến hơn gì người tri-thức, và người tri-thức cũng chưa chắc đã có nhiều tri-giác hơn người phán-đoán. Để tránh ngộ-nhận, nên hiểu phán-đoán là khuynh-hướng kết-thúc một câu chuyện, kết-luận một vấn-đề, còn tri-thức là khuynh-hướng muốn biết rõ hơn, muốn cảm được nhiều hơn.
Nhìn bề ngoài, tất cả các mẫu người phán-đoán, dù hướng-nội hay hướng-ngoại, dù suy-tư hay tâm-tình, dù trực-giác hay cảm-giác, cũng có một thái-độ làm việc và nghỉ ngơi như nhau, khác hẳn với loại người tri-thức. Người phán-đoán hình như coi hành-động là luật tối-thượng, và muốn ai cũng phải hành-động, làm việc rồi mới được nghỉ ngơi giải-trí. Diện bên ngoài này có ảnh-hưởng rõ rệt trên người phán-đoán: làm tất cả những gì có thể để cho xong một công việc. Người phán-đoán chuẩn-bị sửa soạn mọi sự đầy đủ, bảo-toàn duy-trì cẩn-thận, và thu quén quét dọn đàng-hoàng vì họ coi như thế là cần-thiết.
Người tri-thức không hành-động như vậy. Dù là trực-giác hay cảm-giác, suy-tư hay tâm-tình, hướng-nội hay hướng-ngoại, người tri-thức hình như theo triết-lý chữ nhàn: họ chịu chơi hơn là nghiêm-trang đứng đắn. Người tri-giác không chịu cố-gắng làm những gì ít liên-quan trực-tiếp tới hành-động hiện-thời: họ ngại chuẩn-bị sửa soạn, bảo-toàn duy-trì, hoặc thu quén dọn dẹp. Cùng lắm họ sẽ kiếm người khác làm thay cho họ. Người tri-thức muốn tìm thấy cái thú của làm việc. Có thể nói rằng người tri-thức làm việc để tìm cái thú, lợi trong công việc, còn người phán-đoán làm việc để nhằm tới kết-quả của công việc.
Hai người tri-thức và phán-đoán nếu làm việc chung sẽ phê-bình chỉ-trích nhau rất nhiều. Người phán-đoán có thể mô-tả người tri-giác là không cương-quyết, chậm chạp, lần lữa nay mai, không có chương-trình mục-đích, hay chống-đối, phê-bình, lý-thuyết suông, không theo quyết-định chung. Người tri-thức có khi không tỏ ra kiên-nhẫn được với người phán-đoán, vì họ nhận thấy người phán-đoán có khuynh-hướng đi tới kết-luận vội vàng, cẩu-thả, làm cho chính họ, ngươì tri-thức bị hối-thúc và áp-lực.
Người tri-thức có khi lại cho rằng người phán-đoán hay quyết-định cấp-tốc, bị áp-lực nào đó rồi hối-thúc người khác, chỉ biết đạt cho được chỉ-tiêu mà không để ý tới yếu-tố nào khác, có thái-độ cứng nhắc khó thay đổi, độc-tài thiên-kiến, đặt kế-hoạch và quyết-định vội vàng. Thông thường nếu nghiên-cứu cẩn-thận sự khác biệt về đường lối tri-thức và phán-đoán, người ta có thể phá tan cả những khác biệt khác nữa. Phần nhiều những khác biệt này dễ làm cho người ta phấn-khởi thích-thú, và chịu khó tìm hiểu một chút, ai cũng có thể thích-ứng với người khác được.
2.- những chữ mồi quan-trọng
Người phán-đoán thích những chữ : quyết-định, ổn-thoả, cố-định, dự-tính, chuẩn-bị, kết-thúc, đặt kế-hoạch, hoàn-tất, khẩn-trương, cấp-tốc, hạn chót, ra tay.
Người tri-thức thích những chữ: chờ xem, tìm hiểu thêm, linh-động, tuỳ nghi thích-ứng, để chân trời rộng mở, cứ tiếp-tục tìm hiểu, kế-hoạch tạm thời, còn nước còn tát, ngày dài tháng rộng, biết đâu bất ngờ, đâu cần phải hẹn, chờ xem.

 

Biết người, hiểu mình