Thứ Tư, 1 tháng 3, 2017

Học để làm gì

Học để làm gì?


Các học sinh, sinh viên và nghiên cứu sinh đang bận rộn chuẩn bị cho năm học mới. Hẳn bạn từng nghe ý nguyện của cha mẹ mình khi họ muốn bạn theo đuổi một ngành nghề cụ thể. Nhưng với câu hỏi “Học để làm gì?”, đâu là câu trả lời của riêng bạn?


Đi tìm câu hỏi đúng
Trong buổi học đầu tiên của lớp hóa đại cương cho sinh viên năm thứ nhất, tôi thường hỏi học trò: “Tại sao bạn ở đây?” và “Bạn muốn gì từ lớp này?”. Nhưng câu hỏi “Học để làm gì?” hẳn có tính bao quát hơn.
Câu trả lời tôi thường gặp trong hơn 20 năm dạy học là “Học để có công việc làm tốt và có cuộc sống ổn định”. Hoàn toàn hợp lý. Nhưng chỉ thế thôi sao?
Những năm học cấp III, tôi phần lo đi cày mướn để giúp gia đình, phần lo yêu đương ở lứa tuổi dậy thì nên thường quên lãng chuyện học hành. Cha tôi có lần khuyên: “Học là con đường ngắn nhất để giúp con thoát khỏi cảnh nghèo”. Lúc ấy, tôi hiểu rất đơn giản là học sẽ giúp mình có việc làm lương cao hơn, không còn thiếu thốn vật chất nữa.
Tôi đặt chân lên đất Mỹ cuối năm 1980, trong tay hai bộ đồ cũ, không một xu trong túi, không họ hàng, tiếng Anh được vài chữ để sinh tồn. Đúng 10 năm sau, tôi cầm trong tay tấm bằng tiến sĩ hóa học, rồi tới tấm séc lương khá hậu. Vâng, học đã giúp tôi thoát khỏi cảnh nghèo tiền, nghèo vật chất.

Những diện mạo của nghèo
Nhưng có những cái nghèo khác mà lúc trước tôi không hề biết mình cũng gặp. Có câu “Bạn không biết điều bạn không biết”.
Kiến thức thấp thì cơ hội cũng không có bao nhiêu. Bạn có thể làm gì khi không biết đọc, biết viết? Nếu biết đọc, biết viết, bạn sẽ có nhiều cơ hội hơn. Nếu có thêm kiến thức chuyên môn, cơ hội và lương cũng sẽ cao hơn. Sau khi làm xong postdoc, tôi có cơ hội làm việc phát triển sản phẩm ở công ty phần mềm, nghiên cứu ở công ty hóa, dạy đại học... Học đã giúp tôi thoát khỏi cái nghèo cơ hội.
Khi nghèo, ước mơ cũng nghèo. Tôi từng mơ một ngày có đĩa cơm tấm bì sườn, thêm cái đùi gà rôti thơm phức, một mình tôi ăn thoải mái, không chia cho ai cả.
Kiến thức chẳng những gia tăng khả năng mơ ước mà còn đa dạng hóa nó nữa. Giờ đây, ước mơ của tôi xếp thành nhiều loại: ước mơ trong nghiên cứu khoa học, ước mơ cho xã hội, ước mơ khởi nghiệp, ước mơ cá nhân...
Khi nghèo, niềm hi vọng vào tương lai cũng mong manh. Người nghèo thường có cái nhìn bi quan trong cuộc sống hơn. Có hướng suy nghĩ rằng chính vì tính bi quan và thiếu tích cực nên đã làm họ nghèo. Đây là một tranh cãi kiểu “con gà - quả trứng”, nhưng ai cũng đồng ý là khi vượt qua khỏi cảnh nghèo vật chất thì cái nhìn cuộc sống của bạn sẽ khách quan và tích cực hơn.
Khi nghèo thì cơ hội học hành cũng ít. Người ít học thường ứng xử cảm tính nhiều hơn, thay vì dùng lý trí. Kiến thức về luật pháp, hiểu biết về khả năng đánh mất nhân cách con người khi mất tự chủ là điều sẽ giúp lý trí điều tiết được cảm xúc. Bằng cấp không tạo nên con người có văn hóa ứng xử, chỉ những người biết dùng kiến thức, cách sống và ý thức xã hội mới giúp họ có cách ứng xử văn minh.
Khi nghèo, tình thương thường gói ghém trong phạm vi bản thân và gia đình. Mối quan tâm lớn nhất khi đó thường là cơm áo gạo tiền, do đó khó mà còn tâm trí để lo lắng đến cộng đồng và xã hội. Khi ta vượt qua được khỏi cảnh nghèo, ta thường thông cảm cho những người cùng cảnh như ta trước đây, quan tâm đến cộng đồng và xã hội hơn, muốn đem cơ hội đến và giúp những người kém may mắn hơn.
Nghèo, ít học thường đi đôi với tính tự ti, vì thế đưa đến cái nhìn bi quan và thiếu tích cực trong cuộc sống. Kiến thức mà bạn có sẽ làm bạn tự tin hơn như khi đưa ra những quyết định cá nhân ảnh hưởng đến cuộc sống của mình và gia đình, thay vì lệ thuộc người khác.
Khi nghèo, ít học, tiếng nói cũng bé, không mấy ai quan tâm, chẳng mấy ai nghe. Với học thức, bạn sẽ có cơ hội nắm giữ những vị trí cao hơn trong xã hội, tiếng nói của bạn lúc ấy sẽ có tầm ảnh hưởng sâu rộng hơn.
Người nghèo ít học thì ít quan tâm đến tác hại tới sức khỏe của thực phẩm, họ không có nhiều lựa chọn và có kiến thức để chọn. Với kiến thức, bạn sẽ quan tâm đến sức khỏe của mình hơn, quan tâm đến chất lượng của thực phẩm hơn, biết cách chăm lo cho sức khỏe của bản thân và người thân hơn.
Ít học thì bạn thường không có nhiều cơ hội để học hỏi kinh nghiệm quản lý tiền bạc vì tiền có thể chỉ đủ chi tiêu trong ngày, tuần hay tháng. Một bằng chứng rất rõ là đa số người nghèo trúng số độc đắc thường tiêu hết tiền thưởng và trở lại cảnh nghèo sau vài năm. Người có học thường có khả năng quản lý tiền bạc tốt hơn.
Mục tiêu của những kẻ lường gạt thường là những người ít học và muốn làm giàu nhanh. Với học thức và hiểu biết về luật pháp, kinh tế và xã hội, xác suất bị người khác lường gạt sẽ thấp hơn. Học sẽ giúp bạn khôn ngoan hơn trong việc phân biệt được thực hư trong cuộc sống.
Cái nghèo dễ làm tầm nhìn thường không quá một năm, như để dành lúa đến mùa gặt năm sau, nuôi heo để ăn tết cuối năm... ít ai nghĩ đến việc đầu tư cho 5 năm hay 10 năm, rất khó nói đến suy nghĩ cho cả cuộc đời hay cho thế hệ sau. Kiến thức sẽ giúp bạn có tầm nhìn dài hạn hơn, biết đầu tư cho tương lai, cho con cái...
Nếu hiểu được tầm quan trọng của việc học và cố gắng để ngày càng tiến bộ thì ngoài những hiệu quả nói trên cho cá nhân, bạn còn đóng góp xây dựng một xã hội văn minh và công bằng hơn. Nhưng bằng cấp chỉ đánh dấu mức độ kiến thức chuyên môn, bạn phải biết áp dụng cả kiến thức cuộc sống - thường được gọi là kỹ năng mềm.
Thành công, do đó, đòi hỏi và truyền cảm hứng để bạn tiếp tục trau dồi kiến thức, trau dồi bản thân suốt cuộc đời mình. 

Học để làm gì?

Khi còn bé chúng ta thường được ba mẹ khuyên rằng: "Con ơi cố học để biết thật nhiều, để thi tốt, để đạt điểm cao ". Ta lớn lên với tâm thế, học để lấy kiến thức là chính. Học để biết thật nhiều, nhưng học để biết liệu đã đủ, hay chăng chúng ta cần học để làm nhiều hơn.
 

 
Trong tiềm thức chúng ta đã luôn có một ý nghĩ rằng “học là để biết”. Chính vì thế mà sinh viên Việt Nam luôn được coi là biết rất nhiều. Cái gì chúng ta cũng đọc, cũng quan tâm. Nhưng chúng ta không thật sự đi sâu vào một lĩnh vực, một vấn đề nào.Thế nên nếu hỏi thật cặn kẽ thì hóa ra ta lại chẳng biết gì. Đương nhiên không phải tất cả các bạn sinh viên đều như vậy. Những bạn mong muốn tìm hiểu sâu về vấn đề mình quan tâm, đã không biết thì thôi, đã biết thì phải hiểu thật cặn kẽ thì thường sẽ thành công trong sự nghiệp sau này. Ví như các cụ đã bảo: Một nghề thì sống đống nghề thì chết. Hay cũng giống như việc bạn nhìn thấy người ta cắt kim cương. Kim cương là một vật thể siêu cứng, không một thứ kim loại nào có thể cắt được kim cương. Vậy người ta làm cách nào để cắt được. Rất đơn giản, người ta dùng tia laze, tia laze chính là một đại diện cho sự tập trung, và thử hỏi nếu chùm tia laze đó không tập trung vào một điểm thì liệu nó có cắt được kim cương không.Việc học cũng vậy, nếu học dàn trải, học để biết thật nhiều thì hiệu quả sẽ không cao.Tôi không phản đối việc học để lấy kiến thức. Học để mưu cầu kiến thức là một điều hết sức hoan nghênh. Nó giúp cho bạn trở nên uyên bác, hiểu biết hơn. Nhưng liệu học để biết đã đủ hay chưa. Ngày xưa chưa có Internet chưa có công cụ tìm kiếm google thì người biết nhiều sẽ rất có lợi ích. Học không chỉ để biết, học còn để hiểu và quan trọng hơn là học để làm và làm chuyên nghiệp.

Ngày nay đang là thời đại công nghệ thông tin, khi mà lượng thông tin là bình đẳng với nhau. Ta có thể ngồi ở nhà để tìm kiếm mọi thông tin liên quan đến một vấn đề nào đó ta quan tâm.Ta có thể giao tiếp với những chuyên gia cách chúng ta hàng ngàn cây số. Ta có thể tiếp cận lượng kiến thức khổng lồ trên mạng. Khi đó điều gì sẽ xảy ra. Liệu trí nhớ của ta có thể hơn được một công cụ tìm kiếm như Google. Khi mà lượng thông tin được tiếp cận một cách dễ dàng thì chúng không còn tạo nên sự cạnh tranh nữa. Con người không thể hơn nhau bởi thông tin và kiến thức họ biết nữa, họ chỉ có thể hơn nhau bởi kỹ năng tra cứu thông tin mà thôi.

Một điều nữa mà chúng ta phải công nhận rằng, xã hội không dùng được kiến thức trong đầu chúng ta, chỉ khi nào ta biến kiến thức đó thành sản phẩm dùng được thì khi đó kiến thức mới thực sự có giá trị. Nhiều người khoe rằng ta rất giỏi, ta biết rất nhiều, ta sẽ làm thay đổi cả thế giới. Nhưng chỉ khi nào chúng ta đem áp dụng những kiến thức đó vào trong thực tế cuộc sống hay trong công việc của chúng ta thì ta mới thấy được giá trị thực sự của nó. Chúng ta cũng thấy rằng trong xã hội có nhiều người rất có tiềm năng, nhưng xã hội không cần tiềm năng mà cần những người làm được việc. Tiềm năng mà không được phát huy đúng lúc, đúng chỗ thì cũng sẽ bị phí phạm. Một hành động còn hơn một đống lời bàn, một hành động bằng mười suy nghĩ.

Vậy điều quan trọng nhất để tạo nên lợi thế cạnh tranh chính là thay đổi tư duy.Từ việc nghĩ rằng học để biết, học để thi chuyển sang cách nghĩ học là để làm.

Khi ta tư duy học để làm thì ta sẽ biết học trọng tâm vào cái gì. Cái gì xã hội thật sự cần. Ta sẽ biết được cái gì bắt buộc phải học, cái gì cần học, cái gì nên học. Khi đó ta sẽ tìm được điểm giao nhau giữa những cái ta học và những cái xã hội cần. Điều đó cũng giống như đường cung và cầu trong kinh tế học. Khi ta học đúng cái xã hội cần thì ta sẽ thành công. Khi tư duy học để làm, ta sẽ quan tâm nhiều hơn đến việc trau dồi kỹ năng. Ví dụ như rất nhiều người cảm thấy lúng túng khi phải trình bày một đề tài hay một dự án. Công việc chuẩn bị rất công phu, đề án làm rất hoàn thiện nhưng không thể diễn tả hết được điểm tốt, điểm khác biệt của đề án và dẫn tới việc không thuyết phục được người khác ủng hộ đề án.

Khi ta tư duy học để làm ta sẽ quan tâm nhiều hơn đến kinh nghiệm thực tế thay vì lý thuyết đơn thuần. Các bạn sinh viên sẽ đi làm thêm để có được nhiều kinh nghiệm hơn, tự tin hơn, giao tiếp giỏi hơn.Và khi đó tự các bạn đã làm thu hẹp khoảng cách giữa những cái biết và những cái làm được.

Gieo nhân nào thì sẽ gặt quả đấy, học để biết thì biết rất nhiều, học để thi thì kết quả thi sẽ tốt, học để làm thì sẽ có khả năng làm việc tốt, sẽ thích ứng nhanh với môi trường làm việc sau này.




Những điều cần biết về kỹ thuật công não

Brainstorming là gì, nên bắt đầu từ đâu? Quan sát những điều mới mẻ, chú ý những điều bình thường hàng ngày,...là những kỹ thuật cơ bản để bạn Brainstorming một cách hiệu quả nhất. Tìm hiểu chi tiết trong bài viết sau đây.

Khám phá phương pháp tư duy sáng tạo hiệu quả - Brainstorming

Brainstorming là gì?

Brainstorming (hay kỹ thuật động não, công não) là một phương pháp tư duy sáng tạo đặc sắc, do Alex Osborn (Hoa Kỳ) sáng tạo ra. Phương pháp này dùng Mind Map là công cụ hỗ trợ để phát triển nhiều giải pháp sáng tạo cho một vấn đề. Nó hoạt động bằng cách nêu ra tất cả các ý tưởng xung quanh một vấn đề, để từ đó rút ra được những giải pháp mình cho là có khả thi nhất.
Để thực hiện brainstorming, bạn phải có một tâm trạng thật thoải mái, khi đó đầu óc bạn mới có thể nghĩ ra được nhiều cái hay ho. Bạn đừng tự gò ép chính mình, hãy để tất cả những ý nghĩ, hình ảnh được tuôn ra một cách phóng khoáng và ngẫu nhiên, càng nhiều càng tốt. Bạn đừng quan tâm ý kiến đó có ngớ ngẩn hay ngu ngốc đến thế nào, biết đâu chính cái mà bạn cho là ngớ ngẩn đó lại giúp bạn có được một ý tưởng cực kỳ sáng tạo và độc đáo mà chưa ai nghĩ tới.

Lợi ích của phương pháp Brainstorming

Tiếng Anh có câu thành ngữ “Two heads are better than one” – xin được chuyển ngữ tạm là “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Đại ý là một nhóm người cùng suy nghĩ thì luôn hiệu quả hơn một cá nhân, về cả thể lực lẫn trí tuệ. Sự đa dạng về lối suy nghĩ, trí tuệ, kinh nghiệm, cách nhìn và văn hóa của các cá nhân trong nhóm tạo điều kiện cho một loạt ý tưởng đa chiều được sản sinh ra. Đây là một trong những trường hợp mà số lượng quan trọng hơn chất lượng. Chính nhờ một khối dữ liệu lớn về giải pháp mà nhóm có thể gọt rũa hoặc lựa chọn ra giải pháp/ý tưởng vẹn toàn nhất. Đó chính là lợi ích to lớn nhất của phương pháp brainstorming.

Một số nguyên tắc cơ bản của kỹ thuật động não - brainstorming

  • Tôn trọng mọi ý tưởng đưa ra: Khi các ý tưởng được đưa ra, không được phép chỉ trích, phê bình ngay. Tất cả các ý tưởng đều được ghi chép lại và phân tích đánh giá ở các bước sau.
  • Tự do suy nghĩ: Không giới hạn việc đưa ra các ý tưởng bay bổng kể cả những ý tưởng khác thường bởi trên thực tế có những ý tưởng kỳ quặc đã trở thành hiện thực.
  • Kết nối các ý tưởng: Cải thiện, sửa đổi, góp ý xây dựng cho các ý tưởng. Các câu hỏi thường đặt ra: Ý tưởng được đề nghị chất lượng thế nào? Làm thế nào để ý tưởng đó đem lại hiệu quả? Cần thay đổi gì để ý tưởng trở nên tốt hơn?...
  • Cần quan tâm đến số lượng các ý tưởng: Tập trung suy nghĩ khai thác tạo ra khối lượng lớn các ý tưởng để sau đó có cơ sở sàng lọc. Có hai lý do chính để cần số lượng lớn các ý tưởng. Thứ nhất những ý tưởng lúc đầu học viên đưa ra thông thường là các ý tưởng hiển nhiên, cũ, ít có tính sáng tạo, vì vậy cần có phương pháp để học viên tạo ra nhiều ý tưởng mới. Thứ hai các ý tưởng giải pháp càng nhiều, càng có nhiều ý tưởng để lựa chọn.

Các kỹ thuật cơ bản để bạn Brainstorming hiệu quả

Khi bắt đầu brainstorming, bạn hãy chú ý đến những kỹ thuật cơ bản sau đây:

1. Quan sát những điều mới mẻ

Khi đứng trước một đồ vật là lùng, câu hỏi đầu tiên của bạn sẽ là chính xác đây là cái gì ? nó có công dụng gì và dùng ra sao ? chính sự phán đoán khi không biết rõ sẽ dẫn tới những ý tưởng thú vị, ngay cả khi những phán toán đó hoàn toàn không đúng với thực tế. Đã bao giờ bạn nghĩ một cây anten có kiểu dạng lạ là một cây cột thu lôi hay chưa ? Hay mỗi ngày khi đi về nhà bạn đều đi đúng một con đường duy nhất, nhìn cùng một cảnh vật nên lâu ngày sẽ chẳng buồn ngó đến cảnh vật xung quanh. Hãy thử một lần khám phá một con đường mới về nhà mà bạn chưa từng đi, khi đó bạn thấy bạn sẽ phải chú ý đến cảnh vật xung anh nhiều hơn. Du lịch, gặp gỡ những người bạn mới đều là những cách để khám phá và tích lũy những ý tưởng mới để có thể sử dụng khi cần thiết.

2. Chú ý những điều bình thường hàng ngày

Một vết loang trên bàn gỗ trên bàn làm việc, đã bao giờ bạn nhìn kỹ nó thật gần để tìm hiểu nó là do trà, café hay thứ gì để lại… Nhìn kỹ những bảng hiệu, con người trên đoạn đường đi về hàng ngày, bạn sẽ nhận thấy những điều vô cùng ngạc nhiên mà bình thường bạn bỏ qua hay nghĩ là không cần thiết. Hãy tìm cách suy nghĩ phát triển những điều mình thấy, ví dụ như nhìn thấy một ngã tư, bạn hãy hình dung nếu có đèn tín hiệu giao thông thì sẽ thế nào ? nếu không có thì sao hay thậm chí giải sử có một vòng xoay thì giao thông và cảnh vật sẽ thế nào ? Cuối cùng, hãy quan sát thật kỹ những thành phần cấu tạo nên thứ bạn đang nhìn. Có trong tay một hộp quà, hãy khoan vội mở nó ra để lấy thứ bên trong, hãy quan sát thật kỹ tới hộp đựng, giấy gói, nơ, hoa văn trên giấy, kết dính ra sao ? …

3. Kết hợp nhiều ý tưởng để tạo ra ý tưởng mới:

Đây là một bước vô cùng quan trọng trong việc tìm kiếm những ý tưởng mới. Giả sử ta có một cây đèn và một chiếc đồng hồ trong tay, nếu kết hợp chúng lại thì sẽ như thế nào ? một cây đèn có gắn đồng hồ ? một chiếc đèn hẹn giờ bật tắt ? một chiếc đồng hồ dạ quang ? hay đồng hồ sử dụng năng lượng ánh sáng ? một chiếc đồng hồ du lịch có thể phát sáng để soi đường ? Kết hợp hai hay nhiều thứ khác nhau lại với nhau theo chức năng, hình dạng, cấu tạo và bạn sẽ bất ngờ với những ý tưởng mới nghe có thể là vô lý những hoàn toàn có thể là bước bắt đầu cho một sản phẩm đột phá.

Những điều cần biết về kỹ thuật công não - BrainstormingNhững điều cần biết về kỹ thuật công não - Brainstorming

4. Đặt ý tưởng trong những điều kiện khác nhau

Cố gắng khai thác sự đối nghịch với ý tưởng đang có sẽ giúp ta có 2 ý tưởng hoàn toàn khách nhau. Ví dụ như tại sai phải xây một ngôi nhà đầy góc cạnh mà không xây một ngôi nhà tròn ? hay tại sao phải lắp ráp một máy tính có kích thước lớn mà không lắp ráp một máy tính thật nhỏ gọn, tiết kiệm diện tích ?
Bên cạnh đó hãy đặt ý tưởng vào trong những điều kiện khác thường. Ví dụ một chiếc máy tính thu nhỏ hết cỡ thì sẽ như thế nào ? Có thể xách tay ? có thể bỏ túi áo ? hay thậm chí có thể ghép dưới da ?, một chiếc bánh nếu phóng thật lớn trông nó sẽ ra sao ?

5. Đặt ra những giới hạn và luật lệ khi Brainstorming

Việc liệt kê các ý tưởng một cách lan tràn sẽ dễ dẫn tới đi quá xa vấn đề cần giải quyết nếu bạn không đặt ra một hàng rào giới hạn nó và thực hiện theo. Đây là một kỹ năng mềm cần thiết trong quá trình thực hiện Brainstorming. Ví dụ, khi nghĩ về quảng cáo một loại nước hoa thì bạn không phải suy nghĩ phát triển ra tới tình hình thế giới, hay khi tìm hiểu về con đường thì không cần phát triển ý tưởng lan qua lãnh vực thể thao chẳng hạn. Giới hạn hợp lý giúp bạn tập trung vấn đề và kiếm thật nhiều ý tưởng hữu dụng mà không mất quá nhiều thời gian, nhưng nếu giới hạn quá nhỏ có thể sẽ giới hạn luồng suy nghĩ của bạn.

Một số lưu ý quan trọng khi sử dụng kỹ thuật động não (brainstorming)

  • Đừng cố tìm một câu trả lời đúng: Tùy theo tầm nhìn và sự hiểu biết của mỗi người mà mỗi vấn đề có thể có nhiều câu trả lời đúng, nên đừng cố tìm một câu trả lời đúng nhất.
  • Đừng luôn cố gắng tuân theo logic: Sự hợp lí không phải lúc nào cũng chiếm ưu thế, mà thường có nhiều sự trái ngược giữa tình cảm của con người và nguyên tắc của tổ chức.
  • Đừng tuân theo các nguyên tắc một cách cứng nhắc: Nếu muốn đổi mới và cải tiến thì cần biết nghi ngờ và xem xét những giới hạn không rõ ràng đối với tư duy.
  • Đừng quá lệ thuộc vào hiện thực: Có nhiều ý tưởng không thực tế có thể trở thành nhữnh bàn đạp để sáng tạo.
  • Đừng cố tránh sự không rõ ràng: Sự tư duy sáng tạo có thể bị cản trở bởi sự quá khách quan hay cá biệt hoá.
  • Đừng quá lo sợ và cố tránh thất bại: Sự lo sợ thất bại có thể làm tê liệt quyết tâm thực hiện những ý tưởng hay.
  • Thêm một chút hồi tưởng: những trò chơi khôi hài thời thơ ấu sẽ có thể là những gợi ý hay cho hiện tại, hoặc một hình tượng đã bắt gặp ở đâu đó cũng có thể là một điểm trong ý tưởng.
  • Tránh tình trạng quá biệt lập: Sự kết hợp chéo giữa các lĩnh vực chuyên môn khác nhau thường rất hữu hiệu trong việc xác định tìm giải pháp.
  • Đừng quá quan trọng hóa vấn đề: Sự hài hước, không khí thoải mái làm giảm căng thẳng và thúc đẩy khả năng sáng tạo.
  • Luôn luôn sáng tạo bắt đầu bằng ý tưởng mới: bằng cách nuôi dưỡng những ý tưởng nhỏ bé bình thường và biến những ý tưởng ấy thành hiện thực, chúng ta sẽ có thể phát triển và thực hiện những ý tưởng lớn hơn nhiều trong tương lai.
Brainstorming (kỹ thuật công não) là công cụ tốt nhất để tìm kiếm những ý tưởng sáng tạo trong một tập thể, brainstorming là lúc mọi người cùng ngồi lại với nhau, cùng suy nghĩ, cùng trao đổi và đưa ra những ý tưởng mới lạ. Tuy nhiên, Brainstorming không phải dễ thực hiện vì một lý do dễ hiểu – mọi người thường có tâm lý giấu giếm những gì đang suy nghĩ vì sợ sự bình phẩm, dèm pha từ những người khác. Hi vọng những nguyên tắc và kỹ thuật thực hiện phương pháp brainstorming trên đây sẽ giúp bạn "động não" một cách hiệu quả nhất. Theo dõi kenhtuyensinh thường xuyên để học thêm nhiều kỹ năng sống khác như kỹ năng thuyết trình, kỹ năng giao tiếp,... nhé!
Bài viết thuộc chủ đềkỹ năng sống, tư duy sáng tạo, kỹ thuật động não, phương pháp thực hiện brainstorming, lợi ích của phương pháp brainstorming, các nguyên tắc của brainstorming.

Tư duy sáng tạo được vận dụng như thế nào?

Tư duy sáng tạo được vận dụng như thế nào? Khi phải đương đầu với một sự việc khó khăn hay một quyết định quan trọng, bạn hãy suy nghĩ về cách nhìn nhận vấn đề của nhóm bạn. Đừng bao giờ cho rằng bạn đã biết được vấn đề đó, mà hãy cố gắng tiếp cận...

Các bước để vận dụng tư duy sáng tạo vào thực tiễn cuộc sống

Nhìn nhận đúng vấn đề

Ở bước đầu tiên của quy trình ra quyết định hay giải quyết vấn đề, việc nhìn nhận đúng vấn đề được xem như một vị trí thuận lợi để áp dụng tư duy sáng tạo. Việc này không hề đòi hỏi chi phí và chỉ cần rất ít thời gian, song lại có khả năng hướng quy trình quyết định sang những lối đi mới mẻ và hữu ích hơn.

Tách rời quan điểm thông thường

Một phương pháp sử dụng tư duy sáng tạo là xem xét quyết định hay vấn đề từ quan điểm của người đứng ngoài cuộc, nghĩa là bạn phải tách rời quan điểm thông thường của mình để nhìn nhận sự việc. Ví dụ, bạn có thể đánh giá công ty hoặc sản phẩm hay chất lượng phục vụ của công ty dưới con mắt khách hàng.
Tất nhiên, bạn cũng có thể tiến hành các cuộc nghiên cứu thị trường nhưng việc đó khá tốn kém và mất nhiều thời gian. Một phương án nhanh chóng lại tiết kiệm hơn là đặt mình vào vị trí của khách hàng tiềm năng và thử giao dịch kinh doanh với chính công ty của bạn. Bạn cũng nên nhờ một người đáng tin cậy hay một thành viên trong gia đình thử làm điều đó.
Các bước để vận dụng tư duy sáng tạo vào thực tiễn cuộc sống

Bắt đầu bằng việc tìm kiếm thông tin về sản phẩm hay dịch vụ của công ty bạn

Điều này dễ hay khó và ở mức độ nào? Sau đó hãy mua hàng thông qua các kênh phân phối điển hình. Bạn có được kinh nghiệm gì khi mua hàng thông qua số điện thoại miễn phí hay website của công ty? Bạn hãy thử thắc mắc hay phàn nàn điều gì đó với đại lý bán hàng hay phòng dịch vụ khách hàng của công ty và lưu ý xem vấn đề này được xử lý như thế nào.
Mục đích của phương pháp tư duy sáng tạo này là tìm hiểu công ty bạn từ quan điểm của khách hàng. Những thông tin thu thập được sẽ giúp bạn tìm ra vị trí tốt nhất để nhìn nhận vấn đề và tiến hành các bước cải thiện.
Khi phải đương đầu với một sự việc khó khăn hay một quyết định quan trọng, bạn hãy suy nghĩ về cách nhìn nhận vấn đề của nhóm bạn. Đừng bao giờ cho rằng bạn đã biết được vấn đề đó, mà hãy cố gắng tiếp cận, đánh giá vấn đề theo nhiều cách khác nhau và phân tích những thông tin hỗ trợ cho các giả định của bạn. Trong suốt quy trình này, bạn hãy đặt những câu hỏi mở nhằm khuyến khích việc tìm hiểu vấn đề một cách chi tiết và cặn kẽ hơn. Những câu hỏi đóng dựa trên các giả định đã được xác lập trước sẽ không có lợi cho nhóm bạn.
Sau đây là ví dụ về các câu hỏi mở có tác dụng tạo nền tảng cho việc thảo luận và chia sẻ ý kiến:
  • "Anh có thông tin đáng tin cậy nào cho thấy là chúng ta đang gặp khó khăn?".
  • "Đây là vấn đề độc lập hay có liên quan tới các phòng ban khác?".
  • "Chúng ta có thể đánh giá tầm quan trọng của vấn đề như thế nào?".
  • Trái lại, những câu hỏi đóng thường chỉ cho ra câu trả lời "có" hoặc "không". Ví dụ:
  • "Như vậy là anh đã trao đổi với phòng tài chính và phòng thiết kế về việc này phải không?".
  • "Anh thật sự tin rằng chúng ta cần phải ra quyết định nhanh chóng ư?"
Việc thảo luận và chia sẻ ý kiến sẽ giúp bạn tìm ra cách nhìn nhận vấn đề đúng đắn nhất để chuẩn bị sẵn sàng cho bước tiếp theo của quy trình ra quyết định, đó là đề xuất các phương án.

Tóm tắt về vận dụng tư duy sáng tạo trong công việc

+ Việc nhìn nhận vấn đề chính là cửa sổ tinh thần để chúng ta xem xét vấn đề, tình huống hay cơ hội.
+ Nhìn nhận vấn đề đúng là yếu tố căn bản để có thể tiến đến quyết định hợp lý.
+ Hãy thận trọng vì một số người cố tình chuyển hướng vấn đề theo chủ đích cá nhân của họ.
+ Hãy thử thách cách nhìn nhận vấn đề đầu tiên và chủ động tìm thêm những cách nhìn nhận khác.
+ Hãy sáng suốt để nhận ra những giả định dựa trên thành kiến, cũng như những sai lầm trong tất cả các cách nhìn nhận vấn đề.

Làm thế nào để rèn luyện tư duy sáng tạo: Những lời khuyên hữu ích

1. Cung cấp đủ chất dinh dưỡng

Nếu như bạn muốn phát triển tư duy đòi hỏi phải cung cấp những chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể nhất là những loại thực phẩm tốt cho não như : bí đỏ, trứng, socola, nho, thịt, cá… hãy bắt đầu cung cấp năng lượng mới cho cơ thể nếu như bạn muốn khởi động những tư duy khác, cơ thể con người nếu như thiếu sức sống mệt mỏi sẽ không làm được việc gì cả chứ đừng nói đến là tìm ý tưởng mới.

2. Đừng tự tin – ỷ lại quá mức

Tự tin vào bản thân là một kỹ năng sống cần thiết nhưng đôi lúc cũng đừng nên lạm dụng quá việc này sẽ dẫn đến làm cho não bộ của bạn không vượt qua được cái mức đã có sẳn và khiến chúng lười hoạt động.
VD đơn giản: Bạn gặp một vấn đề đã từng giải quyết rồi nên cứ tiếp tục dùng phương pháp cũ mà không cần suy nghĩ hướng mới  việc này làm cho khả năng tư duy của bạn bị ù lì và bạn trở thành kẻ thụ động, bạn nên nhớ rằng bao giờ cũng vậy phải hoạt động não bộ để kích thích những hướng giải quyết mới có được những cách riêng của bản thân mình đừng tự tin hay quá ỷ lại. Đôi khi chúng ta cứ hay tư duy theo kinh nghiệm bởi vậy điều đó làm đầu óc chúng ta mất đi sự linh hoạt. Đó cũng chính là nguyên nhân làm hạn chế sự sáng tạo của bạn, hãy tập thành thói quen suy xét một vật hoặc một vấn đề ở nhiều khía cạnh khác nhau.

3. Đọc sách và đọc nhiều nội dung khác nhau

” Sách là vô tận – học hỏi không bao giờ là đủ “ bạn nên nhớ rõ câu này, hãy bỏ ra mỗi tuần 2 ngày, mỗi ngày 2 tiếng để tham khảo những cuốn sách mà bạn tâm đắc thậm chí những chủ đề mới với những nội dung đa dạng, chúng sẽ giúp bạn lưu trữ những tư duy mới cho việc sáng tạo, đôi lúc bạn có biết có những ý tưởng mới có thể xuất phát từ những điều tưởng chừng không liên quan những lại giúp ích khá tốt.

4. Hãy tạo nhiều mối quan hệ

Mỗi người điều có những lý lẽ riêng và đương nhiên ở họ luôn có những khía cạnh cho ta học hỏi, khi bạn trò chuyện với những người mới về những điều mới lạ sẽ giúp bạn hiểu được vấn đề từ nhiều hướng khác nhau tạo cho bạn cách suy nghĩ đa dạng hơn. Một điểm thú vị trong những mối quan hệ nữa chính là bạn sẽ được tiếp xúc với câu chuyện thành công – thất bại của họ yếu tố đánh giá và đúng sai không được đề cập đến mà bạn cần thả tung những suy nghĩ của mình để lắng nghe và phá bỏ các rào cản, luôn hoan nghênh mọi ý tưởng hành động mới.

5. Thúc đẩy những ý nghĩ 

táo bạo

Đừng sợ thất bại có thất bại mới có thành công con đường ta đi không chỉ có hoa hồng thôi đâu, vì thế khi xảy ra vấn đề đừng cứ chờ để tự nhiên hay mong người khác đến giúp bạn giải quyết bạn có ý tưởng hãy thúc đẩy nó, lên kế hoạch cho nó tạo nó trở thành hiện thực nếu như bạn cứ bạn ấp ủ thì ý tưởng nó mãi chỉ nằm trong sự an toàn của bạn vì bạn cảm thấy đắn đo không dám hành động nghĩa là bạn đang tự thiêu rụi đi những sáng tạo của bản thân mình. Bạn hãy vượt qua ra khỏi nỗi lo sợ rủi ro đó mà hành động ngay hãy tin tưởng vào những ý tưởng khả năng tư duy sáng tạo của bản thân mình để được phát huy hơn.
VD : Nếu bạn có một chai rượu nho, nút ép trong miêng chại không mở ra được. Vậy làm thế nào để uống chai rượu nho này mà không cần đập vỏ chai, cũng không khoan lỗ trên nút chai? có khó không  ? Trả lời : Đừng nghĩ đến những kiến thưc thông thường quá là phải lôi được nắp chai đó ra mà hãy ” Ấn nút chai vào trong ” Chúc bạn thành công !

Tổng hợp

Xây Dựng Thói Quen Đọc Sách

LỜI NGỎ
Xây Dựng Thói Quen Đọc Sách
Mỗi ngày chúng ta mất bao nhiêu thời gian để đọc sách?
Trong thời đại thông tin, chúng ta đọc tin nhiều hơn đọc sách. Tin tức quá nhiều, tin thời sự trong nước, tin thế giới, tin các mỹ nhân, tin của giới Showbiz, v.v... từ nhiều nguồn luôn có sẵn. Dần dần quỹ thời gian cho đọc sách trở nên hạn hẹp.
Với trải nghiệm của cá nhân, đọc sách luôn làm mình phấn chấn, tích cực và hạnh phúc hơn.
Chia sẻ với các bạn bài viết này và mong bạn cũng có được những ích lợi lớn lao đó.
Xây Dựng Thói Quen Đọc Sách
Đọc sách để khám phá thế giới, khám phá lịch sử. Nhưng quan trọng hơn, đọc sách là khám phá bản thân mình...Đó là điều mà hầu như ai cũng biết, nhưng vẫn không có nhiều người đọc sách. Họ không có nhu cầu tìm đến những kiến thức kể trên? Có đấy chứ! Vậy tại sao số người đọc sách vẫn ít?
Thời gian đọc sách trung bình trong tuần của một người Việt Nam tương đối thấp (điều này chắc bạn tự kiểm nghiệm bản thân, sẽ biết ngay). Nguyên nhân chính là do nhiều người chưa rõ mục đích lâu dài và tầm quan trọng thật sự của việc đọc sách, đặc biệt là giới doanh nhân, những người mà thời gian còn quý hơn cả vàng. Vậy hãy thử đi tìm các lý do khiến chúng ta không thể... không đọc sách.
Đọc để sống một cuộc đời
Một cuốn sách có giá trị luôn được tác giả, có khi không phải là một mà là nhiều người "vắt tim, vắt óc" viết ra. Vì vậy, có thể nói không quá là những điều đúc kết từ sách là cả một đời người, hoặc cả thế hệ của nhiều người đã sống và chiêm nghiệm.
Cuộc đời chúng ta không đủ dài để có thể "thu gom" trí tuệ nhân loại bằng cách tự mình sống để lấy kinh nghiệm. Vậy cách hay nhất là sống qua cuộc đời nhiều người trên từng trang sách. Tiếp cận với các tác giả nổi tiếng, những người thành công, chúng ta có thể rút ngắn được con đường đến đích của mình từ những bài học của họ. Bạn có thể học hỏi kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau: từ kinh nghiệm của chính mình, từ cuộc sống, trường lớp, từ người khác và qua sách vở. Ngày nay, kiến thức thay đổi với tốc độ chóng mặt. Sách chính là người thầy tuyệt vời mà bạn có thể cận kề mọi lúc, mọi nơi, giúp cập nhật kiến thức nhanh và toàn diện nhất.
Đọc để có tư tưởng mới
Trong số kiến thức mà bạn cần cho đời sống, sự hiểu biết về bản thân là quan trọng nhất. Hãy khám phá bản thân, bạn sẽ thấy toàn bộ vũ trụ.
Sách chính là người thầy cần mẫn và "không lạc hậu", giúp bạn học hỏi về cuộc sống và tìm hiểu chính mình. Qua đó, bạn sẽ phát triển các tiềm năng vô biên của bản thân.
Không phải làm doanh nhân là bạn chỉ đọc sách về kinh doanh, quản lý, bí quyết lãnh đạo... Có nhiều thể loại sách khác cũng rất cần thiết cho tất cả mọi người để tăng vốn sống, vốn hiểu biết. Việc đọc sách còn giúp chúng ta phát triển tư duy và khả năng sáng tạo, tăng trí tưởng tượng và có những quan điểm đột phá.
Thỉnh thoảng, ngoài các loại sách liên quan đến chuyên môn của mình, bạn nên đọc những cuốn có đề tài lạ, thậm chí đề tài mà bạn không hề thích, để kích thích bộ não "suy nghĩ vượt khung", tiếp cận với những khía cạnh mới mẻ.
Đọc để... thư giãn
Khi cầm cuốn sách trên tay với mục đích đọc sách rõ rệt trong đầu (phải có lý do khi đọc từng cuốn), bạn sẽ tập trung trí não và cảm xúc để hấp thu nội dung và cảm nhận giá trị cuốn sách.
Trước khi đọc, hãy nghĩ đến các vấn đề hay thắc mắc bạn đang muốn tìm lời đáp. Việc tập trung trong lúc đọc sách sẽ mớ ra cho bạn hướng tháo gỡ. Lúc ấy, cuốn sách sẽ trở nên vô giá.
Việc tập trung cũng giúp trí não được thư giãn. Khi đó, bạn sẽ thả hồn vào từng trang sách, đưa trí tưởng tượng vươn đến những miền đất mà mắt thường không thể nhìn thấy.
Chắc chắn, bạn cũng sẽ cảm nhận được nhiều điều kỳ thú, đôi khi hơn cả một chuyến đi du lịch.
Khi trí óc đã gặt hái nhiều điều mới mẻ, nó sẽ không còn ở tầm vóc bình thường nữa. Vậy bạn còn chờ gì nữa?
Mỗi ngày, chỉ cần dành khoảng 15 phút để đọc sách là có thể hoàn thành 7 trang sách. Điều này có nghĩa, mỗi tháng bạn xem xong một cuốn sách dày khoảng 200 trang mỗi năm 12 cuốn sách. Và sau 10 năm, bạn xem được 120 cuốn sách.
Thử tưởng tượng, nếu tăng gấp đôi thời gian đọc sách lên 30 phút mỗi ngày, bạn sẽ có trí tuệ của... 240 cuốn sách, sau 10 năm.
Vậy từ nay, mong rằng sẽ không còn ai nói: "Tôi muốn đọc sách lắm, nhưng không có thời gian"!
THEO TẠP CHÍ THÀNH ĐẠT

Chủ Nhật, 26 tháng 2, 2017

SỰ ÁP ĐẢO CỦA PHƯƠNG TÂY ĐỐI VỚI PHƯƠNG ĐÔNG TRÊN PHƯƠNG DIỆN VĂN HÓA VÀ TINH THẦN TRUYỀN THỐNG

SỰ ÁP ĐẢO CỦA PHƯƠNG TÂY ĐỐI VỚI PHƯƠNG ĐÔNG TRÊN PHƯƠNG DIỆN VĂN HÓA VÀ TINH THẦN TRUYỀN THỐNG
A. SỰ ÁP ĐẢO NÀY LÀ CÓ THẬT VÀ CÓ NGUYÊN NHÂN
1. Ai cũng biết: trong thời cổ đại, thế giới có 3 nền văn minh tiêu biểu và rực rỡ nhất thì trong đó, phương Đông chiếm hai: Văn minh cổ đại Ấn Độ và văn minh cổ đại Trung Hoa. Còn phương Tây chỉ một: Văn minh cổ đại Hy La. Vậy mà, trải qua thời kỳ trung đại, do điều kiện địa lý, lịch sử của hai bên khác nhau mà dẫn đến tình trạng: phương Tây bứt lên, phát triển ào ạt, tạo dựng được một nền văn minh vật chất, văn minh động (chữ dùng của Đông kinh nghĩa thục trong Văn minh tân học sách) của phương Đông. Từ đó mà có cuộc tấn công, áp đảo của phương Tây đối với phương Đông trên mọi mặt: chính trị, kinh tế văn hóa, tinh thần…
2. Tại sao có hiện tượng một bên thì tiến nhanh, một bên thì tiến chậm để đến bị áp đảo? Có thể có nhiều cách giải thích. Sau đây là hai cách giải thích đáng được lưu ý.
- Do điều kiện sống của hai bên khác nhau để tạo cho mỗi bên một kiểu tư duy khác nhau. Với phương Tây là kiểu tư duy thiên về tuyến tính (linéaire), kèm theo là năng lực tư duy phân tích (analytique), từ đó đi vào con đường phát triển khoa học, đặc biệt là khoa học thực nghiệm, thực dụng (pragmatique), tạo ra một nền văn minh vật chất đồ sộ, phi thường, kèm theo là một nền văn minh tinh thần kiểu phương Tây, có nhiều mặt khác phương Đông. Trong khi, với phương Đông lại có kiểu tư duy thiên về cầu tính (globale, sphèrique) mang tính chất hỗn hợp giữa trực giác và lý tính, vô thức và hữu thức, tiềm thức và ý thức, ít năng lực duy lý, phân tích, do đó không phát triển mạnh về khoa học kỹ thuật, không xây dựng được đời sống văn minh vật chất bề thế như phương Tây, để rút cục bị phương Tây tấn công áp đảo. Sau này, đặc biệt là hiện nay, nhờ có sự giao lưu Đông Tây được mở rộng, sự xâm nhập lẫn nhau tăng tiến trong mọi lĩnh vực của đời sống thì sự khác biệt giữa hai kiểu tư duy trên, tuy có được rút ngắn rõ rệt, nhưng không phải là không còn. Điều này hoàn toàn có thể chứng minh bằng nhiều phương diện.
- Cách giải thích thứ hai lại muốn đi theo một hướng khác là cho rằng xét trong tổng thể và ở cấp độ vĩ mô nhất, trường cửu nhất trong sự sống nhân loại, thì cái gọi là cao thấp về văn minh giữa Tây và Đông, chưa hẳn đã đúng. Ở đây là sự lựa chọn giữa hai con đường xây dựng và duy trì sự sống. Con đường xây dựng sự sống của phương Tây trước mắt là được, là cao tuyệt, nhưng xét lâu dài, vào các kỷ nguyên sau, chắc gì đã được. Bởi cái mặt trái của tấm huấn chương này cũng là tày trời. Ở đây quả thật có quy luật như Tản Đà đã nói: Sự văn minh tiến hóa bao nhiêu thì sự dã man cũng tiến hóa bấy nhiêu (Giấc mộng con, tập 1) Còn phương Đông, đành là chịu thua kém về cuộc sống vật chất, nhưng lại chăm lo nhiều hơn đến cuộc sống tinh thần, và như thế, xét lâu dài, chắc gì đã dại. Ở đây, luật đối trọng và luật cân bằng giữa hai phương diện vật chất và tinh thần là điều quan trọng nhất để duy trì và phát triển sự sống lâu dài. Cách lý giải thứ hai này liệu là một sự ngụy biện, một thứ AQ theo chủ nghĩa chiến thắng tinh thần từng bị Lỗ Tấn chế giễu không? Thiết tưởng không thể đơn giản trong sự kết luận về kiến giải này được.
3. Dù nói gì thì nói, hiện tượng phương Đông bị phương Tây áp đảo trên phương diện văn hóa – tinh thần vẫn là một sự thật không thể chối cãi và đáng buồn là cho tới hôm nay vẫn chưa được chính người phương Đông (ở đây hẵng cứ nói người Việt Nam) nhận rõ tới mức cần thiết để có cách thanh toán, có lợi cho sự phát triển của mình. Quy luật của sự áp đảo và bị áp đảo là quy luật của cái mạnh đối với cái yếu. Cái mạnh nhờ mạnh mới áp đảo được. Cái yếu thì vì yếu nên mới bị áp đảo. Nhưng không chỉ thế. Phía mạnh không phải cái gì cũng hay. Ngược lại, phía yếu không phải cái gì cũng dở. Có điều là một khi đã bị áp đảo thì cái dở của phía mạnh cũng tham gia chiến thắng, và cái hay của phía yếu cũng thành chiến bại. Nhìn vào cuộc hôn phối Tây Đông gần hai thế kỷ qua cho tận hôm nay, thấy rõ quy luật phức tạp vừa nói.
B. NHỮNG ĐIỀU BIỂU HIỆN CƠ BẢN CỦA SỰ ÁP ĐẢO
1. Nhìn từ mặt ngoài: sự áp đảo đã diễn ra trên nhiều lãnh vực thuộc đời sống văn hóa – tinh thần như: triết học, văn học, y học, võ thuật, thể dục, trò chơi…
- Về triết học: đó là hiện tượng làm mất địa vị chủ nhân và mai một những điều không đáng mai một đối với các học thuyết Nho, Phật, Lão sản phẩm bản địa của phương Đông, một cách rất oái ăm là: tự người phương Đông (tất nhiên không phải tất cả, nhưng là khá đông) vì choáng ngợp, vì “trông người mà ngậm đến ta”, không đủ độ tỉnh táo, quay ra chê bai, phủ nhận thành quả triết học của cha ông tổ tiên mình. Chưa dám nói đâu xa, cứ nói chuyện, không ít người người Trung Quốc và người Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX lại đây, chê bai Nho giáo, coi thường Phật giáo, bỏ rơi Lão Trang, khinh thường Kinh Dịch… trong khi sùng bái một chiều tư tưởng Phục hưng, chủ nghĩa duy vật, triết học ánh sáng, chủ nghĩa duy lý… phương Tây, kể cả cách đón nhận chủ nghĩa Mác theo kiểu đã có… thì không thể không nghĩ đến sự áp đảo đó, trên phương diện triết thuyết. Điều cần nói thêm cho hiểu hết độ oái ăm của hiện thực là không phải người ít học, ngược lại có người thuộc bậc đại trí đại thức, không phải không yêu phương Đông, và dân tộc mình, ngược lại đều là yêu nước, yêu phương Đông đã làm nên việc này. Ví như Lỗ Tấn ở Trung Quốc. Và ở Việt Nam, cũng là thế. Xin miễn ví dụ.
- Về văn học: đó là hiện tượng kiểu tư duy lý luận, phê bình văn chương thiên về cầu tính, hỗn hợp trực giác và lý tính, rất coi trọng trực giác chân lý nghệ thuật và có nhiều khả năng tiếp cận chân lý nghệ thuật, tồn tại lâu đời, nay đã bị lép vế hẳn so với kiểu tư duy lý luận, phê bình văn chương thiên vào sự phân tích, duy lý, thậm chí là lạm phát lý tính, ít nhiều xa với chân lý nghệ thuật vốn từ phương Tây đến. Ví dụ phê bình Truyện Kièu của Nguyễn Du ngày trước, cụ Mộng Liên Đường chỉ cần một câu rằng “Nguyễn Du có một con mắt trông thấu sáu cõi, có tấm lòng nghĩ tới muôn đời”, còn ngày nay, ông Lê Đình Kỵ viết cả một cuốn sách “Chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du trong Truyện Kiều” hơn 500 trang. Ở đây không thể coi thường giá trị cuốn sách của Lê Đình Kỵ. Nhưng thử hỏi: giá như Nguyễn Du sống lại, hỏi tiên sinh: ai tri âm với mình hơn? Không khéo tiên sinh đáp: Mộng Liên Đường! Mộng Liên Đường! Bởi Lê Đình Kỵ nói đến chủ nghĩa hiện thực bằng hệ thuyết phương pháp phân tích của lý luận văn học hiện đại được du nhập từ phương Tây, từ Liên Xô tới, tuy có đưa đến nhiều sự khám phá lý thú, nhưng thật ra vẫn chưa thấm vào đâu so với luận điểm “con mắt trông thấu sáu cõi” mà Mộng Liên Đường đã tặng cho Nguyễn Du. Cũng vậy, Lê Đình Kỵ nói về chủ nghĩa nhân đạo trong truyện Kiều cùng với không biết bao nhiêu nhận xét hấp dẫn. Nhưng cũng chưa nói hết cái sức hàm chứa trong lời của Mộng Liên Đường rằng: Nguyễn Du có “Tấm lòng nghĩ tới muôn đời!”. Vậy mà ngày nay, giới phê bình văn học, kể cả các thầy giáo trong nhà trường dạy văn, có mấy ai để ý tới kiểu cách phê bình của Mộng Liên Đường mà cũng là của truyền thống tiếp nhận văn chương của phương Đông xưa nữa đâu. Và biết bao giờ, trong đời sống văn học Việt Nam mới có được sự phối hợp bình đẳng Đông Tây trong tiếp nhận nghệ thuật này.
- Về y học: đó là hiện tượng nền y học cổ truyền của phương Đông, đặc biệt là của Trung Hoa với những tên tuổi vĩ đại như Biển Thước, Hoa Đà… đã là kỳ diệu trên cả hai phương lý thuyết và thực hành, có cơ sở triết học độc đáo và sâu sắc, in cá tính tư duy thiên về cầu tính của phương Đông, từng là phương tiện chữa trị rất thần hiệu cho người phương Đông, vậy mà từ đầu thế kỷ XX đến nay đã bị nền Tây y lấn át rõ rệt, sống lay sống lắt, bị dè bỉu bởi mấy ông đốc tờ Tây. Tất nhiên hiện nay đã có khác, y học cổ truyền phương Đông đang có cơ hội hồi sinh.
- Về võ thuật: Đó là hiện tượng nền võ thuật phong phú lâu đời, hấp dẫn của phương Đông vốn dựa trên nguyên tắc tổng hợp sức mạnh của trí lực, của cơ bắp, đặc biệt là sức mạnh tiềm ẩn thuộc nội tại cơ thể con người, vậy mà từ đầu thế kỷ XX này đến nay đã bị lép vế rõ rệt trước nền võ thuật của phương Tây xem ra có vẻ thiên vào sức mạnh trí lực, cơ bắp và những năng lực hiển hiện, trông thấy được ở con người. Cả về mặt sự luyện tập của con người, đó là hiện tượng các hình thức cổ truyền của phương Đông như khí công, khinh công, nội công… bị lép vế trước các hình thức thể thao thể dục của phương Tây. Nghĩ thêm sang chuyện trò chơi giải trí cũng thấy như vậy. Bao nhiêu hình thức vốn là đặc sản phương Đông: cờ tướng, cầu lông, tổ tôm, mã chược, vật cầu… nay chỉ là thứ sống dở chết dở, trước sự áp đảo của các trò chơi phương Tây. Nghe tin em bé tỉnh Thanh vừa qua đạt giải vô địch cờ vua thế giới ở độ tuổi 12, người Việt Nam ai mà không sướng bụng. Nhưng giá gì có một em nào đó của Việt Nam lại đạt được giải nhất như thể về cờ tướng, thì còn sướng biết mấy. Tất nhiên là trước khi mong điều này, còn phải mong là thế giới sẽ có giải thi quốc tế về cờ tướng đã.
2. Nhìn thêm vào trong: trở lên là những hiện tượng bị áp đảo dễ thấy vì nó lộ ra trước mắt mọi người. Nhưng quan trọng hơn, còn là những vấn đề thuộc phía bên trong, tức là thuộc quan niệm triết lý, đạo đức, xã hội, thuộc đời sống văn hóa, tinh thần của con người, vốn có ý nghĩa thực tiễn rất lớn nhưng lại tồn tại dưới dạng trừu tượng không dễ gì nhận ra với số đông, nhất là với những ai đã ly hôn với chúng lâu ngày. Người viết bài này, vừa chưa đủ sức dàn dựng vấn đề một cách hệ thống, vừa do khuôn khổ bài viết không cho phép, nên tạm ghi lại đôi điều như sau:
2.1. Quan niệm về con người: quả thực có sự khác nhau bên cạnh sự giống nhau giữa Tây và Đông chung quanh quan niệm về con người. Và trên phương diện này, không phải cái gì thuộc phương Đông cũng thua phương Tây. Thậm chí còn ngược lại. Ví như quan niệm “tam tài” (thiên-địa-nhân) “Vạn vật tương đồng”, “thiên nhân hợp nhất”, “Thiên nhân nhất thể” của Nho giáo và quan niệm con người và muôn loài là bình đẳng của Phật giáo, chứ con người không phải là trung tâm vũ trụ, chúa tể của muôn loài theo kiểu phương Tây. Quan niệm tam tài rõ ràng là đặt con người trước hết là trong quan hệ với vũ trụ với đất trời rồi mới đến quan hệ giữa con người với nhau giữa cõi nhân gian. Quan niệm con người bình đẳng với muôn loài từ đó dẫn đến sự kêu gọi tình thương tới muôn loài, chủ trương không sát sinh, đúng là có mặt phi thực tế nhưng không hẳn hoàn toàn phi lý. Cũng như quan niệm coi con người là trung tâm của vũ trụ, chúa tế của muôn loài, thực tế đã đưa đến cho con người một đời sống vật chất và tinh thần vô cùng lớn lao, nhưng không phải là không có mặt trái. Khoa chiêm tinh học và học thuyết về môi trường sinh thái nhân loại, các lý thuyết nhân văn hiện đại đã cho phép suy nghĩ một cách phức tạp hơn trước những quan niệm trên, ít ra là không thể quá đơn giản trong việc khẳng định sự hơn thua đã có mà xét cho cùng chính là sự áp đảo gây nên ở nhiều thập kỷ qua do ảnh hưởng phương Tây. Đó là chưa muốn nói rằng đã có loại ý kiến muốn đặt quan niệm “tam tài” lên trên hết mọi quan niệm khác về con người và muốn cuộc sống nhân loại được triển khai theo quan niệm đó.
2.2. Cách xử lý mối quan hệ đức – trí, đức – tài trong cuộc sống con người: quả đây cũng là chỗ có sự khác nhau giữa Tây và Đông. Ở phương Đông cổ trung đại, nói chung thiên về đức trị hơn là pháp trị. Nhiều người từng cho đó là chỗ thấp kém của phương Đông so với phương Tây sớm biết coi trọng pháp trị. Cách kết luận đó, ít nhiều vẫn có mặt chưa thỏa đáng bởi lẽ chưa nhìn hết tính năng của việc coi trọng đức trị. Phương Đông có Nho giáo với thuyết NHÂN, NGHĨA, LỄ, TRÍ, TÍN trong đó TRÍ đứng thứ tư sau NHÂN LỄ NGHĨA thuộc phạm trù đạo đức. Với thuyết NHÂN, TRÍ, DŨNG thì TRÍ vẫn là thứ hai sau NHÂN. Với thuyết “Tiên học lễ, hậu học văn”, VĂN là sau LỄ. Với thuyết “tam lập” (tam bất hủ) thì trên hết là lập đức rồi đến lập công. Còn lập ngôn đứng cuối. Rõ là đặt ĐỨC cao hơn TRÍ. Với chữ TÀI cũng vậy. Phải sau TÂM (cũng là ĐỨC), đúng như Nguyễn Du nói: “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài”. Trong khi ở phương Tây, khuynh hướng chủ đạo là đặt TRÍ trên hết và từ đó đã tạo ra những thành tựu vĩ đại về khoa học kỹ thuật, tạo ra một đời sống vật chất và tinh thần bề thế như mọi người đã biết. Nhiều người cũng đã cho rằng như thế là ở mặt này, phương Tây cao hơn phương Đông. Nhưng nếu xét ở cấp độ vĩ mô nhất, vĩnh hằng nhất của sự sống nhân loại thì có thể nghĩ khác. Công trình của Cao Minh Trí, quốc tịch Trung Hoa, quan chức cao cấp của Unesco thuộc Liên hiệp quốc có nhan đề “Văn hóa và phát triển: từ mô hình đạo đức – vị kỷ - nhân loại đến mô hình đạo đức – sinh thái – vũ trụ” gửi tới hội thảo quốc tế về vấn đề “Con người với tư cách mục tiêu và động lực phát triển kinh tế - xã hội” họp tại Hà Nội vào tháng 8/1994 đã muốn đặt lại vấn đề theo hướng thiên về giải pháp của phương Đông cổ truyền.
2.3. Thuyết âm dương và luật đối trọng, cân bằng (quân bình) để đảm bảo sự sống nói chung, sự sống con người nói riêng: Học thuyết âm dương vốn là đặc sản triết học vô cùng cao diệu của Trung Hoa cổ đại và đã có ảnh hưởng rất lớn trong đời sống của nhiều nước phụ cận Trung Hoa tại phương Đông. Nó có dáng vẻ siêu hình nhưng chính là có giá trị thực tiễn lớn lao trong sự sống con người ở mọi lĩnh vực. Vậy mà từ ngày bị phương Tây áp đảo, người đời, trước hết vẫn là người phương Đông, hầu như đã bỏ rơi mất ý nghĩa thực tiễn để chỉ nhìn thấy bề mặt siêu hình của nó và từ đó dường như đã phủ nhận trơn nó nốt. Giá trị thực tiễn của thuyết âm dương chính là ở chỗ đã đưa con người tới quy luật đối trọng để tạo sự cân bằng; vốn là quy luật lớn nhất đảm bảo độ vững chải cho sự sống nói chung, sự sống con người nói riêng. Nhận thức tường minh về học thuyết âm dương và quy luật đối trọng, cân bằng này và dùng nó làm hệ quy chiếu, làm công cụ rà soát, kiểm tra lại nhiều phương diện cơ bản trong sự sống Việt Nam hôm nay, hẳn là có sự bổ ích rất lớn. Nhưng biết tới ngày nào mới có được như thế một khi nó vẫn bị sự áp đảo của nhiều lý thuyết từ phương Tây đến. Tất nhiên, khả năng phục sinh của nó không phải là không có với nhiều dấu hiệu gần đây. Xin chờ.
2.4. Tôn giáo và sự sống con người: nói thế này đã đúng chưa: trước khi tiếp xúc với phương Tây, ở phương Đông chưa hề sa vào chủ nghĩa vô thần và phương Đông đã tồn tại vừa trong sự kìm hãm vừa trong sự nâng đỡ của tôn giáo. Phật giáo quả có ru ngủ con người nhưng trước hết là sự níu kéo con người ở lại với cõi thiện. Nho giáo không phải là tôn giáo nhưng có cách ứng xử về tôn giáo thật là tuyệt với hai luận điểm ngắn gọn mà cần thiết nhất, không dễ gì các học thuyết khác đã có: “Tế thần như thần tại” ( tế thần thì như có thần) “kính nhi viễn chi” (kính thần nhưng phải xa thần vậy). Vậy mà chủ nghĩa vô thần, với trạng thái này trạng thái khác từ phương Tây tới, lần lượt đã gây ra sự chao đảo cho người phương Đông mà tới nay xem ra cũng không dễ gì gỡ được. Trên đất nước ta hiện nay, đang có chiều hướng muốn gỡ. Nhưng muốn gỡ nhanh, thì lại cần có sự tường minh về tôn giáo. Lại xin chờ.
2.5. Về chế độ phong kiến và ông vua của nó: sự tấn công và áp đảo của phương Tây đối với phương Đông, ngoài sự mạnh yếu của hai bên, còn là sự tấn công áp đảo của hai hình thái xã hội, một bên là chủ nghĩa tư bản, một bên là chế độ phong kiến (kiểu phương Đông không giống hệt chế độ phong kiến phương Tây trước đó). Chế độ phong kiến phương Đông bị tấn công, bị hạ bệ, cơ bản là đáng kiếp, nhưng cũng có điều đáng thương đáng tiếc, nhất là những gì nhân dân, đất nước đã tạo dựng được hoặc cùng giai cấp phong kiến phối hợp tạo dựng được trong lòng chế độ phong kiến mà thực tế đã có giá trị tích cực, lớn lao trong sự sống của đất nước, của nhân dân mình. Tâm lý coi trọng đức trị, cùng với đó là hệ thống lý thuyết đạo đức, coi trọng gia đình, cùng với đó là những thiết chế cần cho sự tồn tại vững chãi của gia đình để đóng được vai trò tích cực là tế bào khỏe của xã hội, coi trọng sự học vấn, cùng với đó là việc tổ chức xã hội dựa trên cơ sở học vấn… có bao nhiêu đáng giá như thế, vậy mà sau này, vì lẽ này lẽ khác, trong đó có lẽ là bị lý thuyết này khác của phương Tây ám, áp đảo để rồi chính tự mình giáng lên chúng mấy chữ đơn sơ nhưng rất tai hại là “đồ phong kiến”, “đồ lạc hậu”, đáng vứt bỏ, phải cải tạo lại. Nhân đây xin nói thêm về khái niệm ông vua vốn là biểu trưng số một của chế độ phong kiến và đó là đối tượng số một của sự phủ định, tiêu diệt, điều đã được xem là chân lý hiển nhiên, miễn bàn luận. Nhưng trở lại nguồn gốc thì lại thế này. Trong hệ thống quan niệm tam tài (thiên địa nhân), thiên nhân hợp nhất, thiên nhân nhất thể, vua trước hết là con trời (thiên tử) được trời giao cho quyền chăn dân, trị dân theo ý trời, mà ý trời lại là ý dân như có sách đã nói. Trị dân mà dân được sung sướng, thanh bình là hợp ý trời. Trị dân mà để dân nghèo đói chết chóc là trái ý trời, và như thế thì vua phải làm lễ sám hối, tạ tội với trời đất. Điều này sử sách đã có chép nhiều. Lễ tế Nam giao hàng năm chính là dịp để vua tự kiểm điểm trước trời. Trong thực tế, vua đã có quyền uy tối thượng, trên tất cả, nhưng vẫn là dưới, chịu sự chi phối của trời, dù là một biểu tượng siêu hình nhưng lại có quyền uy tuyệt đối. Cho nên, cũng trong thực tế, không ít ông vua xấu, gọi là hôn quân, nhưng vua tốt, minh quân nào có hiếm. Vua tốt là vua biết theo ý trời, biết sợ trời, để làm điều thiện với dân. Thử so sánh hai mô hình tổ chức xã hội giữa phương Đông cổ trung đại và phương Tây hiện đại:
+ PĐ: TRỜI + VUA + LUẬT PHÁP PHONG KIẾN + THIÊN HẠ
+ PT: 0 + TỔNG THỐNG + HIẾN PHÁP + THIÊN HẠ
Rõ ràng không thể kết luận về sự hơn kém một cách quá đơn giản như lâu nay đã có (coi mô hình trên là lạc hậu, thua hẳn mô hình dưới) vì thực ra mỗi bên đều có cái hay và cái dỡ. Có vua được trời hướng vào cõi thiện là hay nhưng không có trời hỗ trợ theo điều lành thì chúa đất dễ biến thành chúa trời để rồi mặc sức tung hoành trước sinh mạng người dân. Điều này quả không hiếm ví dụ, chẳng phải chỉ trong quá khứ, mà còn là ở hiện tại. Xin nhớ rằng, hiến pháp có chặt chẽ đến đâu, pháp luật dù có quy định ngóc ngách đến đâu, so với sự sống thiên hình vạn trạng, vẫn còn khe hở. Cảnh sát trần gian dù đông đặc nghiêm túc đến đâu (mà thực tế làm gì có nghiêm túc cả) vẫn không đủ bao hết sự đời. Phải có thêm loại cảnh sát cõi âm, loại cảnh sát nằm ngay trong chính tâm linh mỗi người không loại trừ ai, kể cả ông vua có quyền uy tối thượng, trị vì trăm họ, mới mong đảm bảo có cuộc sống tốt lành nhiều hơn trong điều kiện thiện ác vốn dĩ cứ tranh chấp nhau triền miên cùng nhân loại. Thực tiễn lịch sử phương Đông đã chứng minh cho lý thuyết của nó trên đây. Xin đừng chối bỏ và cũng xin đừng để lý thuyết phương Tây cứ áp đảo mãi nữa ở phương diện này. Vấn đề là phải có sự kết hợp Đông Tây.
C. K ẾT LUẬN.
1. Những điều được trình bày trên đây dù là kết quả suy ngh của bản thân trong nhiều năm nhưng vẫn là bước đầu và có tính chất gợi ý. Chỉ mong có sự tiếp nối, thậm chí có cả sự phản bác theo hướng cùng nhau tìm chân lý
2. Nêu những ý kiến như trên, bản thân tự cho rằng mình không sa vào chủ nghĩa vị kỉ phương Đông, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi bởi lẽ chính mình đang tha thiết và mong muốn có dịp sẽ làm sáng tỏ hơn vấn đề tác động tích cực của văn hoá và tinh thần của phương Tây đối với phương Đông. Hai vấn đề có vẻ là nghịch lý nhưng thực ra là thuận ý.
3. Trong khi nói những điều trên đây, người viết đã để Nhật Bản ra ngoài, bởi Nhật Bản đã không chịu đi theo quy luật chung của phương Đông. Do đó, để rõ hơn những vấn đề nêu ra rất cần lấy Nhật Bản làm đối tượng so sánh.
4. Những vấn đề nêu lên như trên có lẽ thiên về lịch sử, tư tưởng hơn là lịch sử thông sử. Nhưng muốn được chứng minh rõ nét hơn lại rất cần được vai trò của lịch sử thông sử hỗ trợ.
Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, Hà Nội, 1995, số 3
và Văn hoá học đại cương và cơ sở Văn hoá Việt Nam,
Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996.

CHA CON MẠC CỬU VÀ ĐẤT HÀ TIÊN

CHA CON MẠC CỬU VÀ ĐẤT HÀ TIÊN

[Nhân đọc trên Wiki về nhân vật đồng hương Quảng Đông là Mạc Cửu, nhận thấy bài ấy có phần sơ sài và nhiều sai lạc, như cho rằng thuở Mạc Cửu sang khai phá thì Hà Tiên là đất hoang vô chủ, lại cho rằng Cửu sở dĩ có được ngân lượng và thế lực là nhờ đào được cả kho vàng bạc, y như giai thoại về Chú Hỏa mua ve chai được hũ vàng. Nói thiệt: Cứt thì còn có khi tự nhiên trôi vào tận họng cho mình, chứ của đâu sẵn trên trời rớt xuống để ta lượm?
Xin nhấn mạnh, cả hai – Cửu và Hui – đều là tay có duyên hoạnh tài, giỏi kinh thương, và phải đổ mồ hôi sôi máu mắt mới nên cơ đồ. Còn Panthaimas (tức Hà Tiên) thuở đó là thuộc về Cao Miên. Lâu nay sử sách chỉ ghi qua loa về công khai phá của họ Mạc, khiến người đời sau tưởng là dễ dàng như giựt hụi, có biết đâu, mảnh đất kia từng là bãi chiến trường tranh giành quyết liệt giữa Việt-Miên-Thái. Máu và nước mắt của tiền hiền khai phá đã đổ xuống không ít để có được mảnh đất lành ngày nay.
Sau đây, tôi xin trích một đoạn từ công trình biên khảo “Người Hoa tại Việt Nam” của Nguyễn Văn Huy, nhằm bổ sung thêm chút hiểu biết về công khó của người đi trước. Thành thật xin lỗi Giáo sư Nguyễn Văn Huy, vì tôi có chỉnh lại đôi chút về tên đất (như Chân Lạp thành Cao Miên, vì tôi cho rằng vào giữa thế kỷ XVII thì Chân Lạp đã không còn, mà đế quốc Campuchia thì chưa định hình, nên đành tạm mượn tên Cao Miên thông dụng để gọi, nhằm giúp người đọc dễ theo dõi những diễn biến trong thời kỳ hỗn loạn đó); về tên người (vua Taksin của Thái họ là TRỊNH 鄭國英, chứ không phải TRÌNH); và phần cuối bài, tôi cũng mạo muội xin đưa vào một nhận xét riêng, xin lượng thứ tội tài lanh!
Không rảnh để sửa Wiki, tôi chỉ post lên đây để bạn bè cùng đọc với nhau cho biết. Nào, mời mời mọi người cùng thẩm].
_______
Nguồn: http://truyengicungco.com/gia-…/Nguoi-Hoa-Tai-Viet-Nam-6608/
... Giữa thế kỷ 17, nhiều cuộc khởi nghĩa chống nhà Mãn Thanh đã xảy ra trong lục địa Trung Hoa. Dưới sự chỉ đạo của Trịnh Thành Công, một vị tướng Minh triều cũ gốc Triều Châu, dân chúng nổi lên chống lại quân Thanh nhưng đều bị đánh bại, tất cả các làng xã của người Tiều ở Triều Châu và vùng ven biển Hạ Môn đều bị thiêu rụi. Tàn quân của Trịnh Thành Công (Kosinga) phải chạy ra đảo Đài Loan lập chiến khu “phản Thanh phục Minh”.
Trong đám tàn quân này có một người tên Mạc Cửu (hay Mạc Kính Cửu 鄚敬玖), quê ở Lôi Châu tỉnh Quảng Đông, theo Trịnh Thành Công kháng chiến. Năm 1671 thấy chống không nổi quân Thanh, Mạc Cửu mang cả gia đình, binh sĩ và một số sĩ phu khoảng 400 người rời khỏi Phúc Kiến bằng đường biển. Quân của Trịnh Thành Công ngày càng suy yếu, bị quân Thanh đánh bại năm 1680. Quân Thanh tàn sát hết kháng chiến quân, những người sống sót bỏ chạy bằng đường biển đến các quốc gia Đông Nam Á tị nạn, hòa nhập với những nhóm Minh triều cũ đã di cư từ trước.
Mạc Cửu cùng thân bằng quyến thuộc sau nhiều ngày lênh đênh trên biển cả đã cập thuyền vào đảo Koh Tral, rồi đổ bộ lên một vùng đất lạ (được gọi là Panthaimas) trong Vịnh Thái Lan. Mạc Cửu dò hỏi và được biết vùng đất này thuộc ảnh hưởng của vương triều Cao Miên. Phái đoàn Mạc Cửu đến Oudong gặp Nặc Ông Thu (Chey Chettha IV) và ở lại hợp tác cho đến năm 1681. Sau đó Mạc Cửu xin vua Kh’mer cho khai khẩn vùng đất sình lầy Panthaimas trong Vịnh Thái Lan.
Thật ra trong giai đoạn này vương quyền của vua Cao Miên không còn ảnh hưởng mạnh trên những vùng đất ven biển. Vịnh Thái Lan là nơi hành nghề của các đám hải tặc vì nơi này thương thuyền qua lại rất đông. Quan quân Cao Miên vì bận rộn với những cuộc nội chiến và không đủ khả năng bảo vệ vùng đất này nên đã bỏ trống mặc cho hải tặc lập căn cứ. Hơn nữa đây là vùng đất sình lầy phèn chua nước mặn, đầy muỗi mòng, không ai dám đến lập nghiệp, chỉ một số dân phiêu lưu đến ở. Thời này đất Panthaimas chỉ có độ mươi nóc gia của người Kh’mer làm nghề săn bắn và đánh cá.
Mạc Cửu cũng là một tay giang hồ giỏi tổ chức. Trong suốt thời gian lênh đênh trên biển cả, ông đã chiêu tập được một số binh sĩ Minh triều cũ đang hành nghề hải tặc dưới trướng. Thấy có khả năng khai thác nguồn lợi của những đám hải tặc trong vùng, ông lập ra 7 xã: Mán Khảm (Peam), Long Kỳ (Ream), Cần Bột (Kampot), Hương Úc (Konpong Som), Sài Mạt (Cheal Meas), Linh Quỳnh (Rạch Giá) và Phú Quốc (Koh Tral). Thủ phủ đặt tại Mán Khảm (cảng của người Mán), về sau đổi thành Căn Khẩu (tiếng Hoa tùy theo ngữ âm gọi là Căn Kháo hay Căn Cáo). Mạc Cửu cho thành lập nhiều sòng bạc để kinh tài. Được nổi tiếng, ông mộ thêm lưu dân gốc Hoa từ khắp nơi về lập nghiệp và đặt tên vùng đất mới thành Căn Khẩu quốc. Căn Khẩu quốc, tuy là một lãnh địa của Cao Miên, nhưng không lệ thuộc trực tiếp vào nền hành chánh của vương triều Kh’mer, được hưởng qui chế tự trị.
Lưu dân, đa số là người Triều Châu, Quảng Đông và Phúc Kiến, lúc ban đầu là những người không chấp nhận sống dưới trướng nhà Thanh bỏ nước ra đi xây dựng cuộc sống mới. Thành phần xã hội cũng rất đa dạng: người giỏi về văn học, kẻ giỏi nghề đi biển, người thạo nghề buôn bán, nắm vững kỹ thuật chế biến thực phẩm, kẻ biết canh tác lúa nước và đánh cá trên sông lạch, nói chung họ là những thành phần ưu tú của vương triều vừa thất sủng. Về sau có thêm dân chúng nghèo khó dưới thời nhà Thanh đến xin tị nạn. Chẳng bao lâu sau Căn Khẩu quốc nổi tiếng khắp vùng là miền đất trù phú, dễ kiếm tiền. Đảo Koh Tral được đổi tên thành đảo Phú Quốc, có nghĩa là vùng đất giàu có, phú cường. Những tay phiêu lưu giang hồ đến đầu quân dưới trướng Mạc Cửu ngày càng đông và thành một đe dọa đối với uy quyền của Xiêm La (tức Thái Lan sau này), một thế lực đang lên trong vùng.
Trước sự lớn mạnh của đế quốc Xiêm La, Mạc Cửu yêu cầu vua Cao Miên bảo vệ nhưng không được thỏa mãn. Cao Miên cũng đang bị Xiêm La khống chế. Mạc Cửu dò tìm một thế lực mạnh trong vùng để xin được bảo vệ, ông được một thương gia người Minh Hương tên Tô Quân cho biết xa hơn về phía Tây-Bắc, những người Hoa tị nạn khác được chúa Nguyễn cho định cư tại miền Đông đang phát triển nhanh chóng. Thêm vào đó, quân của chúa Nguyễn đang làm chủ miền Tây đất Cao Miên và đang đối đầu với quân Xiêm La. Năm 1708 Mạc Cửu sai hai người thân tín, Trương Cầu và Lý Xa, ra Huế xin được che chở. Năm 1711, Mạc Cửu được Minh vương Nguyễn Phúc Chu mời ra Huế bái kiến. Năm 1714, Mạc Cửu xin làm thuộc hạ của chúa Nguyễn và được phong chức tổng binh cai trị đất Căn Khẩu.
Năm 1717, vua Xiêm mang 20.000 quân tấn công các làng xã của những di dân gốc Hoa tại Căn Khẩu, Mạc Cửu thua phải bỏ chạy. Năm 1724, ông đích thân vào Gia Định dâng luôn đất và xin Ninh vương Nguyễn Phúc Trú giúp khôi phục lại Căn Khẩu quốc. Chúa Nguyễn mang quân xuống đánh, quân Xiêm thua phải rút về nước. Ninh vương thu hồi tất cả làng xã bị chiếm rồi phong Mạc Cửu làm đô đốc cai trị đất Căn Khẩu. Căn Khẩu quốc được đổi thành Long Hồ dinh.
Từ 1729, Long Hồ dinh nổi tiếng là vùng đất trù phú nhất vịnh Thái Lan. Tuy bị đổi tên nhưng di dân Trung Hoa vẫn tiếp tục gọi Long Hồ dinh là “Căn Khẩu quốc”. Người Hoa từ khắp nơi trong vùng (bị người Tây Ban Nha và Hòa Lan đàn áp) đổ về đây lập nghiệp. Quân Kh’mer và Xiêm La đã tấn công nhiều lần vào vùng đất này nhưng đều bị Mạc Cửu đẩy lui.
Mạc Cửu mất (1735), con là Mạc Sĩ Lân, sau đổi thành Mạc Thiên Tứ, được Ninh vương Nguyễn Phúc Trú phong làm đô đốc, kế nghiệp cha cai trị Long Hồ dinh. Gia đình họ Mạc được Ninh vương nâng lên hàng vương tôn. Long Hồ dinh đổi thành trấn Hà Tiên.
Mạc Thiên Tứ (còn gọi là Mạc Thiên Tích 鄚天錫) là một vị tướng giỏi, đã nhiều lần mang quân tấn công Xiêm La và bảo hộ vùng phía nam đất Cao Miên. Mạc Thiên Tứ có công mở rộng thị trấn Hà Tiên và năm 1739 lập thêm bốn huyện: Long Xuyên (miền Cà Mau), Kiên Giang (Rạch Giá), Trấn Giang (miền Cần Thơ) và Trấn Di (miền bắc Bạc Liêu). Mạc Thiên Tứ còn là một nhà học thức lỗi lạc, kiến thức uyên bác, giỏi ngoại giao, có tài thơ văn, đã để lại nhiều tác phẩm giá trị.
Thời bấy giờ nội bộ Cao Miên có loạn. Năm 1747, Nặc Ông Thâm (Thommo Racha III) từ Xiêm La về đánh đuổi Nặc Ông Tha (Chettha V) chiếm ngôi, Ông Tha chạy sang Gia Định cầu cứu. Nặc Ông Thâm sau đó bị Satha II giết, con cháu lại tranh giành ngôi báu. Năm 1749, Nguyễn Phúc Khoát cho quân hộ tống Ông Tha về nước lấy lại ngôi vua. Một người con của Ông Thâm tên Nặc Nguyên (Nac Snguon) nhờ quân Xiêm La sang đánh, Ông Tha thua phải chạy về Gia Định.
Nặc Nguyên mật giao với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài hợp lực đánh chúa Nguyễn. Nguyễn vương biết trước nên năm 1753 cử Nguyễn Cư Trinh sang Nam Vang đánh. Nặc Nguyên thua bỏ thành chạy về Hà Tiên nương náu nhà Mạc Thiên Tứ. Năm 1755, Nặc Nguyên nhờ Mạc Thiên Tứ dâng chúa Nguyễn lãnh thổ hai phủ Tầm Bôn (Cần Thơ) và Lôi Lập (Long Xuyên) để tạ tội và xin được về lại Nam Vang cai trị, chúa Nguyễn ưng thuận.
Năm 1758 Nặc Nguyên mất, không người kế vị. Nặc Nhuận là chú họ tạm quyền giám quốc nhưng bị con rể là Nặc Hinh giết rồi tự xưng vương. Chúa Nguyễn sai Trương Phúc Du mang quân sang đánh, Nặc Hinh bị thuộc hạ giết chết. Do đề nghị của Mạc Thiên Tứ, chúa Nguyễn thuận cho Nặc Tôn (Ang Ton II) con của Nặc Nhuận lên làm vua Cao Miên.
Nặc Tôn tặng chúa Nguyễn lãnh thổ Tầm Phong Long (Meat Chruk hay Mật Luật, nay là Châu Đốc và Sa Đéc) để tạ ơn. Nặc Tôn tặng riêng Mạc Thiên Tứ lãnh thổ 5 phủ miền Đông-Nam Chân Lạp: Hương Úc (Kompong Som), Cần Bột (Kampot), Trực Sâm (Chưng Rừm), Sài Mạt (Cheal Meas) và Linh Quỳnh (vùng duyên hải từ xã Sré Ambel đến làng Peam), nói chung là toàn bộ vùng biển ven duyên quanh đảo Phú Quốc. Mạc Thiên Tứ dâng hết cho Võ vương Nguyễn Phúc Khoát. Chúa Nguyễn sáp nhập tất cả vùng đất mới vào trấn Hà Tiên rồi giao cho Mạc Thiên Tứ cai trị.
Chúa Nguyễn quy các lãnh thổ miền Tây thành ba đạo: Đông Khẩu đạo (Sa Đéc), Tân Châu đạo (Tiền Giang) và Châu Đốc đạo (Hậu Giang), chuyển Long Hồ dinh về đất Tầm Bào (Vĩnh Long) thuộc Châu Đốc đạo. Đất Tầm Bào trước kia gồm có một phần bờ biển của Cao Miên do Nặc Tôn tặng. Công cuộc bình định đất đai miền Nam xem như hoàn tất.
* * *
Nói về tình hình Xiêm La lúc bấy giờ, cũng có một người Tàu khác lập nên đại nghiệp.
Năm 1767, quân Miến Điện tiến chiếm Xiêm La, bắt được vua Xiêm là Phong vương (Boromoraja V) và con là Chiêu Đốc, thiêu hủy thành Ayuthia, nhưng sau đó phải rút về vì Miến Điện bị Trung Hoa tấn công. Hai người con của Phong vương: Chiêu Xỉ Khang chạy thoát sang Cao Miên, còn Chiêu Thúy thì chạy sang Hà Tiên lánh nạn. Trong thời gian này Xiêm La không có vua.
Trịnh Quốc Anh 鄭國英, một người Hoa gốc Triều Châu, giữ chức Phi Nhã (xã trưởng) đất Mang Tát thuộc Xiêm La, khởi binh chống lại quân Miến Điện rồi tự xưng vương năm 1768, đó chính là Taksin Maharaj – vị vua lừng lẫy được người Thái Lan tôn kính. Trịnh Quốc Anh tổ chức lại binh mã, chiêu mộ rất nhiều hải tặc gốc Hoa đang hoạt động trong Vịnh Thái Lan để tăng cường lực lượng. Trịnh Quốc Anh muốn triệt hạ uy lực của gia đình Mạc Thiên Tứ tại Hà Tiên, vì đó là một đe dọa và là địch thủ lợi hại cho uy quyền của ông trong Vịnh Thái Lan. Sự giàu có của Hà Tiên cũng khơi động lòng tham của rất nhiều tướng cướp trong vùng, ai cũng muốn đánh cướp vùng đất này nhưng tất cả đều sợ Mạc Thiên Tứ. Khi Trịnh Quốc Anh kêu gọi hợp tác, các nhóm hải tặc liền hùa theo binh lực Xiêm La tấn công Hà Tiên để cướp của.
Năm 1768 lấy cớ truy lùng hoàng tử Chiêu Thúy của Xiêm, Trịnh Quốc Anh mang quân tiến chiếm Hòn Đất, bắt giam và tra tấn nhiều giáo sĩ Công giáo để tìm nơi trú ẩn của Chiêu Thúy, đồng thời sai tướng Chất Tri (Chakri) mang quân bảo hộ Cao Miên và đưa Nặc Ông Nộn (Ang Non III) lên làm vua. Nặc Tôn chạy về Gia Định lánh nạn. Quân của Trịnh Quốc Anh đã ở lại Hòn Đất ba tháng để truy lùng vị hoàng tử Xiêm lưu vong nhưng không tìm ra. Trước khi rút về nước, Trịnh Quốc Anh cho thành lập trên đảo một căn cứ hải quân và để lại một toán cướp biển nghe ngóng tình hình, tìm cơ hội đánh chiếm Phú Quốc và Hà Tiên.
[Năm 1765 giáo sĩ Bá Đa Lộc (Pigneau de Behaine) đã thành lập tại Hòn Đất một chủng viện nhỏ với khoảng 40 giáo dân Việt, Xiêm và Hoa sống trong mấy ngôi nhà bằng tre. Năm 1767, Bá Đa Lộc cho vị hoàng tử Xiêm trú ẩn trong chủng viện].
Năm 1769, quân Kh'mer dưới sự chỉ đạo của một cướp biển người Triều Châu tên Trần Liên đổ bộ lên Hòn Đất. Trần Liên đánh cướp trụ sở truyền đạo, sát hại nhiều giáo sinh và giáo dân. Bá Đa Lộc cùng một vài giáo sinh thoát được chạy sang Malacca (Indonesia), rồi về Pondichéry (Ấn Độ) lánh nạn. Hoàng tử Chiêu Thúy được người đưa vào Hà Tiên xin Mạc Thiên Tứ che chở. Quân của Trần Liên, kết hợp với hai gia nhân của Mạc Thiên Tứ (Mạc Sung và Mạc Khoán), tiến đánh Hà Tiên. Hai gia nhân làm phản và một số lớn cướp biển Kh’mer bị Thiên Tứ giết chết, Trần Liên thoát được chạy sang Xiêm La tị nạn. Lợi dụng cơ hội này Mạc Thiên Tứ chuẩn bị đưa hoàng tử Chiêu Thúy về Xiêm La đoạt lại ngôi báu. Ông cho luyện tập binh mã rồi mang quân ra chiếm lại Hòn Đất (1770) và chuẩn bị tiến công Xiêm La.
Công việc đang tiến hành thì vào đầu năm 1771, một cận thần của Mạc Thiên Tứ tên Phạm Lam nổi lên làm phản. Phạm Lam kết hợp với hai cướp biển Trần Thái (Vinhly Malu, người Mã Lai) và Hoắc Nhiên (Hoc Nha Ku, người Kh’mer) lập đảng gồm 800 người và 15 tàu thuyền tiến vào Hà Tiên nhưng bị Mạc Thiên Tứ đánh bại.
Giữa năm 1771, nhận thấy những đám cướp biển không đánh lại Mạc Thiên Tứ, Trịnh Quốc Anh đích thân mang đại binh gồm 20.000 người tiến chiếm Hà Tiên với sự chỉ điểm của Trần Liên. Trịnh Quốc Anh thiêu rụi thành phố, chiếm tất cả các đảo lớn nhỏ quanh Hà Tiên, mang về rất nhiều vàng bạc. Con cháu, hầu thiếp và người con gái út của Mạc Thiên Tứ bị Trịnh Quốc Anh bắt sống đem về Bangkok. Mạc Thiên Tứ cùng các con trai phải rút về Rạch Giá, cho người về Gia Định cầu cứu chúa Nguyễn.
Năm 1772, chúa Nguyễn mang 10.000 quân cùng 300 chiến thuyền sang Cao Miên đánh quân Xiêm và đưa Nặc Ông Tôn lên ngôi. Trịnh Quốc Anh làm áp lực tại Hà Tiên buộc quân Việt phải dừng chân tại Nam Vang, không được tiến xa hơn. Sau cùng hai bên đi đến một thỏa thuận để quân Xiêm rút khỏi Hà Tiên: chúa Nguyễn rút quân khỏi Cao Miên và chấp nhận để Nặc Ông Nôn (Ang Non III), người được vua Xiêm chỉ định, lên ngôi vua. Năm sau (1773) Trịnh Quốc Anh rút quân khỏi Hà Tiên, Phú Quốc và Hòn Đất, trả lại người con gái bị bắt làm tù binh cho Mạc Thiên Tứ, nhưng buộc phải giao hoàng tử Chiêu Thúy cho quân Xiêm. Chiêu Thúy bị Trịnh Quốc Anh mang về Bangkok hành quyết.
Hà Tiên sống lại thời yên bình. Năm 1774, Bá Đa Lộc trở về Hòn Đất thành lập họ đạo, năm sau ông được Mạc Thiên Tứ tiếp đãi trọng hậu và cho phép đi giảng đạo khắp Hà Tiên.
Năm 1777 quân Tây Sơn tiến chiếm Gia Định, Nguyễn Phúc Ánh (hay Nguyễn Ánh), lúc đó còn là hoàng tử (15 tuổi), bị quân Tây Sơn truy lùng ráo riết, phải ẩn lánh trên đảo Phú Quốc, sau đó về lập chiến khu trong một khu rừng gần Hà Tiên. Quân Tây Sơn chiếm luôn Hà Tiên. Nguyễn Ánh sai Mạc Thiên Tứ sang Xiêm La cầu viện. Thiên Tứ cùng gia quyến dẫn theo một số binh sĩ đến Bangkok xin gặp Trịnh Quốc Anh. Chẳng may vua Xiêm bị Tây Sơn tráo thư nên nghi Thiên Tứ lập mưu chiếm Bangkok, tất cả đều bị bắt giam. Bị tra tấn dã man, Mạc Thiên Tứ cùng hai con, Mạc Tử Hoàng và Mạc Tử Thượng, tướng Tôn Thất Xuyên tự vẫn, 50 người trong đoàn tùy tùng đều bị xử trảm (tháng 4-1780). Một trong ba người con sống sót, tên Mạc Tử Sanh, được Nguyễn Ánh sau này phong chức lưu thủ cai quản Hà Tiên...
[Một người giao liên của Mạc Thiên Tứ tên Thân bị quân Tây Sơn bắt được. Quân Tây Sơn bèn giả làm một thư trả lời của Nguyễn Ánh sai Mạc Thiên Tứ chiếm kinh đô của Xiêm La. Thư này được dàn xếp để lọt vào tay một người Kh’mer thân Xiêm La tên Bổ Ông Keo. Ông Keo giao thư giả này lại cho Trịnh Quốc Anh. Vua Xiêm sai quân giữa đêm tràn vào trại bắt tất cả đoàn tùy tùng của họ Mạc vào thành Bangkok giam giữ. Bị bắt giam trong một hoàn cảnh như vậy đối với họ Mạc là một điều sỉ nhục. Hơn nữa sứ mệnh cầu viện được giao phó không hoàn thành, Mạc Thiên Tứ cùng các tướng lãnh uống thuốc độc tự vẫn để tỏ lòng trung thành với Nguyễn Ánh và làm gương cho thuộc hạ. Tất cả binh sĩ tùy tùng và gia quyến bị vua Xiêm thảm sát. Một người Kh’mer phục dịch vua Xiêm tên Ỹ La Hom che giấu được bảy người con và cháu trai của Mạc Thiên Tứ].
- Theo ý riêng kẻ hèn mạt học này thì lá thư giả kia khó đánh lừa được quốc vương Taksin, chẳng qua ông ta nhân đó mượn cớ để tiêu diệt họ Mạc mà thôi, Nguyễn Ánh đã sai lầm khi phái Thiên Tứ đi sứ cầu viện, để hai kẻ tử đối đầu chạm mặt nhau trong tình thế bất lợi cho Tứ; hoặc cũng có thể Ánh muốn mượn tay Taksin khử Tứ không chừng, đòn hồi mã thương khử công thần của lãnh tụ, người phàm khó mà lường được. Sau này, Ánh đã phải nhịn nhục, dâng cây vàng cành bạc, chịu làm chư hầu cho vua Xiêm thì lại mượn được quân để đánh nhau với Tây Sơn, chuyện đó ta sẽ cùng bàn ở khi khác].