Thứ Ba, 7 tháng 3, 2017

Các sai lầm có thể mắc phải khi đánh giá nhân viên

Các sai lầm có thể mắc phải khi đánh giá nhân viên:

Có nhiều sai lầm mà người đánh giá có thể mắc phải khi đánh giá nhân viên, vì vậy chúng ta cần hiểu để có thể hạn chế đến mức tối đa những sai lầm đó.
-Tiêu chuẩn đánh giá không rõ ràng: Điều này dẫn đến hậu quả đánh giá không chính xác về nhân viên. Sự mơ hồ về các tiêu thức đánh giá cũng như các quyết định có tính tùy tiện , ngẫu hứng của người đánh giá có thể đưa đến sự không thống nhất giữa các thành viên trong Hội đồng đánh giá , giữa Hội đồng và người bị đánh giá .
-Hiệu ứng tương phản: Xu hướng đánh giá một người nào đó bằng cách so sánh họ với những người khác hơn là so sánh với yêu cầu nhiệm vụ và so với hiệu quả tuyệt đối của người đó. Điều này dẫn đến sau một số người yếu kém, một người ở mức trung bình sẽ được nâng lên ở mức khá giỏi.
-Cảm tưởng ban đầu: Những ấn tượng từ ban đầu mà người bị đánh giá tạo nên sẽ có thể ảnh hưởng đến tình cảm người đánh giá và chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến kết quả đánh giá. An tượng có thể là thuận lợi và cũng có thể đem đến sự bất lợi cho người bị đánh giá . Và thông thường người đánh giá luôn tìm kiếm những yếu tố để khẳng định những nhận định ban đầu đó.
-Hiệu ứng Halo (hay còn gọi là hiệu ứng quầng): Từ một yếu tố duy nhất (hoặc chỉ vài yếu tố) , tốt hoặc xấu , người đánh giá có xu hướng phóng đại cho toàn bộ các yếu tố khác , coi như một tổng thể. Chẳng hạn khi nhận thấy nhân viên có những thành tích tốt trong thể thao thì nhà quản trị khi cảm tình sẽ đánh giá các yếu tố khác cũng như vậy.
-Lỗi thiên kiến: Lỗi do nhà quản trị luôn cảm tình với người bị đánh giá nên chỉ thấy các ưu điểm của họ, mọi nhược điểm đều được cho qua hoặc được coi là không đáng kể.
-Lỗi định kiến: Lỗi này thường xảy ra khi nhà lãnh đạo chịu ảnh hưởng những thành kiến không đúng nên cố gắn những thành kiến đó cho những người mà họ có đặc điểm tương tự. Ví dụ nhà lãnh đạo có thể định kiến với nhân viên về sự khác biệt có tính cá nhân như tuổi tác, quê quán, giới tính … Đôi khi sự các cảm cá nhân làm cho lãnh đạo quy kết hiện tượng vào bản chất . Ví dụ : ít nói cho là kiêu ngạo , thiếu hòa đồng ; ăn mặc diện là luời biếng … Lỗi thiên kiến hay định kiến như ông bà ta nói : “ Thương ai thương cả đường đi, ghét ai ghét cả tông ty họ hàng ” .
-Xu hướng trung bình chủ nghĩa: Xu hướng này cho rằng mọi nhân viên đều thuộc loại trung bình, không ai tốt cũng không ai kém. Cách đánh giá này đại diện cho những người không muốn chấp nhận rủi ro trong đánh giá. Họ ngại sử dụng những thái cực của thang điểm. Đây cũng là cách đánh gía đơn giản vànhàn hạ nhất. Điều đó dẫn đến cách đánh giá này không tạo ra sự phân biệt giữa các nhân viên và vì vậy không tạo được sự khuyến khích động viên nhân viên.
-Sự khoan dung: Là một dạng sai lầm xảy ra khi người đánh giá có khuynh hướng đánh giá mọi nhân viên đều tốt. Họ có khuynh hướng sử dụng mức đánh giá cao của thang điểm. Đánh giá quá cao thường là những người đại diện cho tư tưởng “dĩ hòa vi quý” muốn cho mọi người vui vẻ cả. Đó cũng là cách đánh giá của những người thích lấy lòng người khác qua việc đánh giá một cách thật dễ dãi.
-Xu hướng quá nghiêm khắc: Có những người khi đánh giá lại quá khắt khe, không bằng lòng với mọi ai. Họ cho rằng mọi nhân viên đều dưới mức trung bình. Người giám khảo trong trường hợp này thiên về việc sử dụng thái cực thấp của thang điểm. Qúa nghiêm khắc hay quá khoan dung đều được coi là sai lầm theo khuynh hướng cực đoan. Sai lầm này trái ngược với loại sai lầm theo xu hướng trung bình chủ nghĩa.Tất nhiên, chúng ta cần phải chú ý rằng tất cả nhân viên không phải là “tuyệt hảo” hay “bất tài”.
-Giống với người đánh giá: Đây là một phần của lỗi thiên kiến. Người đánh giá có xu hướng cho điểm cao đối với người giống ta. Ví dụ: cho điểm cao đối với những người cúng quê, cùng trường, yêu thích thể thao… Các sai lầm như vậy có thể bắt nguồn từ việc chúng ta đi xa dần những tiêu chí đánh giá.
-Sai lệch gần đây: Người đánh giá chỉ chú trọng những hành vi, thái độ của người bị đánh giá trong khoảng thời gian gần đây. Những thành công hay những thiếu sót trước đó thường được bỏ qua. Những người có những đóng góp trước đây sẽ cảm thấy sự bất công đến với họ và chắc chắn sự phản đối ở họ đối với hệ thống đánh giá hiệu quả.
Những sai lầm của đánh giá làm chúng ta khó phân biệt được đâu là người tài đâu là người bất tài, giữa người tốt và người xấu và như vậy sẽ không đạt được mục đích của đánh giá. Hệ thống đánh giá cố gắng đòi hỏi một sự khách quan trong đánh giá; đem đến sự công bằng không phân biệt và sự ủng hộ của tổ chức công đoàn cũng như toàn thể nhân viên.
Các nhà nghiên cứu chỉ ra những nguyên nhân của thất bại trong đánh giá có thể là:
1. Thiếu thông tin
2. Các tiêu chuẩn để lượng hóa không rõ ràng
3. Không thực hiện việc đánh giá một cách cẩn thận
4. Không được chuẩn bị cho việc thảo luận kết quả với người lao động
5. Không khách quan trong quá trình đánh giá
6. Thiếu kỹ năng đánh giá
7. Người lao động không thường xuyên nhận được phản hồi
8. Thiếu các nguồn lực cần thiết
9. Việc thảo luận về phát triển nhân viên kém hiệu quả
10. Sử dụng ngôn ngữ khó hiểu, rắc rối.
Nguồn: Quantri.vn (Biên tập và hệ thống hóa)
 

Sống Không Làm Người Khác Buồn Khổ

Sống Không Làm Người Khác Buồn Khổ
Để sống một cuộc sống có ý nghĩa, con người luôn phải phấn đấu học hỏi, trau dồi và sửa sai suốt cả cuộc đời. Sự nhận thức dần dần được hình thành từ những hình ảnh thấy người khác buồn khổ, lo lắng và sợ hãi. Và cuối cùng đã hiểu được "Sống yêu thương là biết mang niềm vui và hạnh phúc đến cho người, lấy niềm vui và hạnh phúc đó làm niềm vui và hạnh phúc cho mình."
Từ đó mỗi người rút ra và đúc kết được những cách sống hay, những kinh nghiệm sống hữu ích cho chính mình, mọi người và muôn loài vạn vật. Vậy những kinh nghiệm và bài học nào đáng để chúng ta lưu ý học hỏi và ứng dụng vào đời sống thực tế. Xin mời các bạn cùng nghiên cứu.
1. Sống luôn thương yêu và tha thứ, bỏ qua mọi lỗi lầm, không nói cái sai, cái lỗi, cái xấu trước mặt lẫn sau lưng của bất kỳ ai.
2. Chỉ nhìn thấy lỗi mình, không đổ lỗi cho người khác.
3. Luôn giúp đỡ mọi người khi họ yêu cầu, nhờ vả hay mong đợi, không nên từ chối.
4. Sống là CHO đâu chỉ NHẬN riêng mình, CHO càng nhiều thì càng hạnh phúc. Không nên quá bủn xỉn keo kiệt và tham lam. Hãy mở rộng bàn tay ra chia sẻ tất cả.
5. Không nên làm cho người khác thất vọng.
6. Sống khiếm tốn, biết nhường nhịn không nên khoe sự tài giỏi của mình kẻo người khác ganh tỵ dẫn đến thù hận và hại nhau.
7. Sống nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng để cho mọi người cùng vui. Dù ai nói xấu mình, chê bai, chỉ trích, nói cái sai của mình, nhận xét đúng sai phải trái như thế nào, mình đều im lặng không cãi lại, không biện minh, không tìm cách đối phó chống trả thì đó gọi là nhẫn nhục. Sau khi nhẫn nhục được thì tùy thuận theo ý kiến, lời nói và hạnh động của họ để làm cho họ vui. Giả sử họ chê bai chỉ trích, nói xấu nói cái sai của mình thì mình cứ cám ơn họ đã góp ý tốt, giúp mình phản tỉnh lại. Nếu thấy mình sai thì nên xin lỗi ngay để họ bớt giận. Sau khi tùy thuận được thì mình bằng lòng vui vẻ không bực tức giận dự thì mọi việc sẽ trở nên tốt đẹp.
8. Biết tôn trọng quan niệm sống, cách sống, cách nhìn của người khác, không bắt buộc hay không mong muốn người khác sống theo quan niệm sống của mình. Không nhận xét, đánh giá quan niệm sống, cách sống hay cách nhìn của người khác.
9. Sống cung kính và tôn trọng người, luôn lễ độ không dùng những lời nói thô tục, xưng hô mày, tao, nó, thằng, …
10. Sống thành thật, chân thành, không dối gạt người, biết giữ chữ tín.
11. Làm ơn giúp đỡ người, không cần người khác biết ơn. Kẻo họ bị áp lực bởi sự mang ơn.
12. Không tạo ngụy tin tức, hình ảnh, vạch ra đời tư của người khác, nhất là những ký giả biến trắng thành đen, đen thành trắng,...
13. Không nên tạo chứng cớ giả gán tội hãm hại người khác.
14. Không lợi dụng người khác làm việc gì đó hại người lợi mình.
15. Không tham lam trộm cắp, lấy đồ của người không xin phép dù là vật nhỏ như cây kim hoặc là chỉ cầm lên xem.
16. Không nên đem đồ vật trộm cắp, đồ vật phi nghĩa không trong sạch tặng cho người khác.
17. Không nên nhận những thứ mà người khác dùng mồ hôi, nước mắt, thời gian, công sức, trí tuệ đánh đổi.
18. Nhặt được tiền vật bị đánh rơi thì tìm cách đem trả lại cho thân chủ.
19. Có vật gì quý hiếm, lạ thì không nên khoe khoang, kẻo tạo lòng tham ở mọi người.
20. Đối xử bình đẳng với tất cả mọi người, mọi dân tộc màu da, nông thôn hay thành thị, nghèo hay giàu, sang hay hèn, đồng tôn giáo hay khác tôn giáo, có học thức hay thiếu học thức, chủ hay tớ, nam hay nữ…
21. Không la mắng, nói lớn tiếng, quát mắng, trách mắng, phạt bất kỳ ai dù là trẻ con, người giúp việc hay người dưới quyền. Dù ai làm sai chỉ nên dùng lời nói ôn tồn nhã nhặn dịu dàng nhẹ nhàng để nói chuyện, khuyên bảo.
22. Nên động viên, khuyến khích người khác hơn là nói người khác không có khả năng, không có năng khiếu làm việc này việc nọ.
23. Quá hy vọng, mong đợi người khác thành tài, đỗ đạt, thành đạt công danh, lợi lộc, tình cảm và những điều khác trong cuộc sống sẽ tạo áp lực lớn ảnh hưởng đến sự thăng bằng tâm lý của người khác.
24. Không nên phụ lòng sự mong đợi của người khác.
25. Khi được thăng chức phát tài thì không nên chà đạp người khác, không nên quên ơn những người đã từng giúp đỡ mình, vẫn nên tôn trọng mọi người, luôn khiêm tốn và nhẫn nhục.
26. Dù cho ai có xấu xí, hôi thúi, quái dị đến đâu cũng không nên nói hoặc để lộ một chút kinh ngạc nào.
27. Trước khi nói hay làm việc gì nên suy nghĩ trước lời nói đó, hành động đó có đem đến làm khổ mình và người hay không. Nếu có thì chớ nên nói và hành động.
28. Trước khi nói hay làm việc gì nên nghĩ đến cảm nhận của người, không nên quá ích kỹ, quá phô trương cái tôi mà làm khổ người.
29. Không nên đổ oan cho người khác khi chưa có bằng chứng chứng minh. Mọi sự tình ở đời này đều do hiểu lầm mà ra, trước khi nói, phải suy nghĩ kỹ và phải có bằng chứng.
30. Không nên nói những lời nói châm biếm, nói móc, lời nói làm người khác tức giận, lấy sự tức giận đó làm thú vui cho mình.
31. Không nên vì che đậy tội lỗi của mình, nói dối, vu oan, đổ oan cho người khác.
32. Không nói những lời nói, câu chuyện làm cho người khác lo lắng, sợ hãi như chuyện ma, chuyện cướp của giết người, chuyện liên quan đến tiền bạc tài chánh eo hẹp, chuyện vỡ nợ, chuyện thất bại trong làm ăn, chuyện xích mích với người khác, chuyện tranh giành danh lợi trong xã hội, cơ quan hay tổ chức nào đó,...
33. Không nên chê bai những khiếm khuyết tật nguyền của người khác như hôi nách, mù, mắt lé, lùn, cà thọt, răng hô, miệng rộng, ...
34. Khi thấy bất kỳ chuyện gì chướng mắt thì tự mình làm lấy, không nên chê bai hoặc nhắc nhở với người khác, kẻo làm người ta tự ái,...Ví dụ: khi thấy nhà dơ, cửa sổ kính đầy bụi thì tự lấy chổi quét, lấy khăn lau sạch.
35. Biết giữ im lặng. Có những việc giữ trong lòng còn tốt hơn là nói ra, bởi vì ta hiểu rằng khi nói ra sẽ đụng chạm đến lòng tự ai, sự tôn nghiêm và danh dự của người khác.
36. Không nhát ma, hù dọa làm cho người khác giật mình sẽ dẫn đến các bệnh đau tim.
37. Không nói những điều nghi ngờ xa gần.
38. Không nên nghi ngờ người khác là người xấu, người ác, người tham lam, người dối trá,... Ngược lại nên tin tưởng mọi người là người tốt, người thiện. Khi chúng ta nghi ngờ ai là lúc chúng ta đã đánh mất lòng yêu thương.
39. Không để cho người khác lo lắng về bất kỳ chuyện gì trong gia đình. Đừng để ai nhắc làm việc gì đến lần thứ hai. Ví dụ: ai nhờ sửa ống nước, bàn ghế, dọn dẹp phòng thì nên làm ngay, hoặc khi mình thấy cần sửa hay dọn dẹp cái gì trong nhà là tự mình làm ngay, đừng nhờ vả ai, đừng ra lệnh cho ai, dù là mình có vai vế lớn trong gia đình.
40. Chỉ nhìn thấy lỗi mình, không nhìn lỗi người, nếu người ta đúng thì họ sẽ bị tự ái, nếu họ sai thì họ sẽ giận dữ và dẫn đến nhiều chuyện tệ hại khác. Người biết nhìn lỗi mình là người có tri kiến nhân quả.
41. Không tài lanh dạy đời, nói lên sự hiểu biết, kinh nghiệm hay khuyên bảo người khác. Bất kỳ ai cũng có tự ái, do vậy hãy cẩn thận vì dạy đời khuyên bảo người khác sẽ làm cho lòng tự tôn của họ bị đụng chạm.
42. Không bình luận, nhận xét đúng sai phải trái về tôn giáo, chính trị của bất kỳ ai.
43. Luôn giữ lời hứa, không hứa lèo.
44. Không nói những lời nói ly gián, chia rẻ bất kỳ ai.
45. Không nên xuyên tạc, nói chuyện không có, hoặc chuyện có thì nói không.
46. Không nên nói những lời nói hung dữ, lớn tiếng, quát mắng, chê bai, chỉ trích ai.
47. Ăn nói tế nhị. Ví dụ: khi ăn món ăn của người khác nấu, không nên nói món ăn này nhạt quá, mặn quá, ngọt quá, hoặc nói vật này xấu, vật này màu xấu, vật này củ, đồ này là đồ rẻ tiền,...
48. Không nên nói những lời nói quá khích động làm người khác buồn, biết khéo nói sẽ làm người khác không bị tổn thương. Ví dụ: Thay vì nói "người khác ngu khờ điên dại, ngu như con bò", nên nói là "người đó không được sáng suốt minh mẫn, không được thông minh lắm".
49. Khen một người tài giỏi, thông minh,... trước mặt người khác sẽ có thể làm hại chính họ. Họ sẽ tự mãn, tự cao hoặc sẽ bị người khác ghen tức, ganh tỵ,...
50. Không nên lấy ai ra làm đề tài để nói chuyện cười đùa hay giểu cợt. Không nên cười trên sự đau khổ hay sự thất bại của người khác.Khi nói chuyện không nên bắt bí người khác, dồn người khác vào ngã cụt. Không nhắc đến những quá khứ và chuyện đau buồn của người khác.
51. Khi bị bệnh đau không rên la, không lộ vẻ sợ hãi lo lắng. Càng rên la, sợ hãi lo lắng thì càng làm cho người xung quanh lo lắng thêm. Hãy nhắc tâm: "Tâm phải bất động trước mọi bệnh tật. Bệnh tật là vô thường, đến rồi đi, không việc gì phải lo lắng và sợ hãi cả."
52. Đi đâu ra khỏi nhà cũng nên báo trước cho ai đó biết để mọi người không lo lắng cho mình, khi về trể cũng nên gọi điện về báo. Không nên đi về quá khuya, ra nhà quá sớm.
53. Không mượn tiền, xin tiền của bất kỳ ai.
54. Sống chung thủy trước mặt lẫn sau lưng, không lăng nhăng bắt cá 2 tay. Sống không chung thủy sẽ phá hoại gia đình mình và gia đình người khác.
55. Không nên lường gạt tình cảm của người khác. Tình yêu làm cho con người mù quáng, khi bị phụ tình, nhiều người không sáng suốt có thiên hướng tự tử hoặc làm những chuyện bất thường.
56. Không nên vì danh lợi, chạy theo tình mới, phụ tình cũ, phản bội người khác.
57. Không nên đùa giỡn với tình yêu.
58. Không nên trở thành kẻ thứ ba phá hoại tình cảm của hai người khác.
59. Không nên lợi dụng quan hệ tình cảm để làm giàu, gây dựng danh tiếng, địa vị,...
60. Không nên khen con gái khác trước mặt bạn gái mình, hoặc ngược lại.
61. Trước khi sinh con nên có kế hoạch hoặc suy nghĩ kỹ sẽ cho con mình hạnh phúc như thế nào.
62. Sống chung với người buồn rầu, ủ rũ, tiêu cực suốt ngày sẽ làm cho người khác chán ghét. Do vậy hãy luôn sống tích cực, vui vẻ, chấp nhận và sẵn sàng đối diện với hiện thực để vượt qua.
63. Không nên bỏ rơi bạn bè lúc khó khăn.
64. Ủng hộ, giúp đỡ bạn bè thì ủng hộ, giúp đỡ, tin tưởng đến cùng. Không nản lòng, bỏ rơi bạn bè khi chưa đến phút cuối.
65. Làm sai, có lỗi thì xin lỗi ngay và sửa sai.
66. Không nên tự ý dời đồ của người khác hay cất đi chổ khác trừ khi đã hỏi trước.
67. Không nên giết người, đánh người, chém, đâm, đầu độc hoặc làm hại người khác.
68. Không nên bắt cóc, tống tiền,...
69. Không nên rượu chè, hút chích nghiện ngập các chất kích thích.
70. Không nên chơi cờ bạc, cá độ, chơi đề, chơi cổ phiếu, mua vé số.
71. Biết người khác không thích mình thì nên tránh mặt.
72. Không nên quá quan tâm, quản lý hoặc kiểm tra người khác, vì họ sẽ cảm thấy mất tự do.
73. Luôn tôn trọng mọi quyết định của người khác, dù là họ đang dấu ta điều gì, không nên moi móc tìm hiểu. Mỗi người có nổi khổ riêng, có mối lo riêng, có đời sống riêng. Dù là vợ chồng, cũng nên tôn trọng cuộc sống riêng của mỗi người, không nên lúc nào củng phải quản lý, nghi ngờ. Ngược lại phải luôn tin tưởng nhau tuyệt đối rằng người kia có lý do và nguyên nhân để làm những việc gì đó mà họ không muốn chia sẻ với ta.
74. Giải quyết mọi vấn đề trước tiên phải tránh những cảm giác chủ quan, cảm tình hay thành kiến, phải đặt mình vào vị trí khách quan và công bằng.
75. Tình yêu không phải là sự chiếm hữu hay ai là của ai. Mỗi người vẫn có cuộc sống riêng và sự tự do của mình. Không nên nghĩ rằng vợ là của mình, chồng là của mình. Hãy luôn tự do tôn trọng cuộc sống riêng của mỗi người, tôn trọng sở thích riêng, lối sinh hoạt riêng, những chuyện thầm kính bí mật riêng của mỗi người.
76. Không nên tìm cách trả thù xưa hoặc ghen tuông như tạt axit, rạch mặt,...
77. Chớ nên hiểu lầm tình bạn thành tình yêu, không phải ai đối xử tốt với mình là có ý tình cảm với mình đâu! Sự hiểu lầm có thể dẫn đến tình bạn xứt mẻ.
78. Chớ nên lừa gạt tình cảm, cảm tình của người khác.
79. Biết tạo cảm giác an toàn cho tất cả mọi người. Ví dụ như người thân con cháu, bà con, hàng xóm, bạn bè, người làm công, cho nhân viên,...của mình bằng những đức hạnh: thương yêu, tha thứ, thành thật, chung thủy, chung tình, dũng cảm, khiêm nhường, nhường nhịn, bền chí, kiên trì,.... Quá chú ý đến họ, nghi ngờ, suốt ngày vạch lá tìm sâu sẽ làm cho người khác có cảm giác bất an, tâm lý bị mất cân bằng, luôn lo sợ và tìm cách tránh xa mình,...
80. Đối xử với con cái như là đối xử với bạn bè. Không nên la mắng đánh đập hay phạt con mà ngược lại luôn thương yêu và tha thứ cho con. Tôn trọng cuộc sống riêng của con. Dùng lời nói ôn tồn, nhã nhặn và dịu dàng nói chuyện với con, không nên quát hay lớn tiếng với con mình.
81. Không nên sắp xếp, ép buộc hay áp đặt cuộc đời cho con mình, hãy luôn tôn trọng sở thích và quyền quyết định của con. Là cha mẹ chỉ nên gợi ý, còn quyết định theo hay không thì tùy theo ý của con cái.
82. Hạnh phúc không phải chỉ là lo cho con cái no đủ, có quần áo để mặc, có nhà để ở là đủ, hạnh phúc là phải xem lòng của con cái, nhìn thấy con có vui hay là không.
83. Cha mẹ đối xử nhợt nhạt hoặc thường chê bai con rể hoặc con dâu sẽ làm cho tình cảm của vợ chồng con mình bị xứt mẻ. Cách đối xử của cha mẹ rất quan trọng trong việc giữ gìn hạnh phúc của con cái mình.
84. Cha mẹ không nên dạy cho con cái những việc làm bất nghĩa, hại người và những điều vô đạo đức.
85. Tiền bạc không phải là thứ quan trọng nhất mang hạnh phúc đến cho con cái. Cái quan trọng nhất là có thể giúp cho con cái hạnh phúc chính là đạo đức, đức hạnh. Thiếu đạo đức đức hạnh tiền bạc cũng chỉ là cỏ rác và làm hại con cái. Do vậy, cha mẹ ngoài chuyện kiếm tiền, nên rèn luyện trau dồi đạo đức đức hạnh cho con cái từ lúc còn nhỏ, biết sống thương yêu, tha thứ, tôn trọng, kính trọng mọi người, chia sẻ bố thí, giúp đỡ, tiết kiệm, thành thật,...
86. Cha mẹ không nên mê tín (xem tuổi vợ chồng,...) phá hoại hạnh phúc tương lai của con cái mình.
87. Cha mẹ không nên chiều chuộng con cái quá sẽ làm cho chúng hư. Hãy tạo cơ hội cho con cái thử thách để biết khả năng của chúng, hiểu đời và trưởng thành hơn.
88. Cha mẹ, thầy cô, người lớn, ông chủ không nên trách mắng, đuổi con cái, người dưới quyền, người ở, học trò ra khỏi nhà, trường, công sở,...Vì như vậy chỉ làm hại họ, khiến họ mất đi niềm tin, có thể trở thành kẻ bụi đời, xin ăn, tự tử hoặc tham gia vào các băng đảng xã hội đen, cướp của, giết người,...
89. Là con cái, nên hiếu thảo với cha mẹ. Khi giàu có chớ khinh thường cha mẹ nghèo. Dù cha mẹ có lỗi gì thì con cái không nên giận, chỉ có luôn mở rộng vòng tay ra thương yêu và tha thứ.
90. Dù cho cha mẹ có cằn nhằn điều gì, con cái cũng không nên lớn tiếng cãi lại hoặc biện minh rồi bỏ nhà ra đi. Nên áp dụng 3 đức nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng.
91. Con cái không nên vì giận mà bỏ cha mẹ ở lại một mình đi nơi khác sống.
92. Khi cha mẹ về già, cần có con cái bên cạnh, ở xa thì nên về thăm hoặc gọi điện thoại về hỏi thăm.
93. Không nên để cho người khác chờ đợi, nhớ nhung, thương nhớ,...
94. Lái xe luôn cẩn thận, giữ gìn trật tự luật lệ an toàn giao thông.
95. Ra hay vào nhà đều khóa cửa cẩn thận.
96. Trước khi đi ngủ kiểm tra cửa nẻo có khóa chưa.
97. Không nên kết bạn xấu. Không tham gia vào những băng đảng xã hội đen, không lui tới những nơi có những băng nhóm xã hội đen tụ tập như quán bar, dancing, quán nhậu, quán karaoke, caffee ôm, bia ôm, massage,...
98. Khi thấy ai làm sai cái gì hay bị thất bại thì chớ nên đổ thêm dầu vào lửa, châm chích, mỉa mai, nói rằng họ không nghe lời mình khuyên,...Chỉ nên an ủi họ "Lấy cái sai, sự thất bại này làm bài học" hoặc "Biết đâu trong cái rủi có cái mai", hoặc "Đừng thất vọng, hãy bình tĩnh lại",...
99. Nếu biết được kế hoạch hại ai của bất kỳ ai dù là người thân, bạn bè thì cũng không nên tham gia vào. Nên tìm cách âm thầm khéo léo ngăn cản hoặc báo cho người bị hại biết trước hoặc giúp đỡ bảo vệ họ (tránh lộ mặt càng tốt)
100. Nếu đã cho người khác mượn tiền thì phải tính trước khả năng người ấy không có tiền để trả hoặc trả chậm. Do vậy khi thấy họ trả chậm thì nên an ủi trấn an họ để họ yên tâm. Ví dụ như "Nếu bị kẹt tiền chưa có thì từ từ cũng được, tụi tôi vẫn chưa cần đến số tiền đó"
101. Không nên kiện tụng ra tòa, cố gắng tự thu xếp ổn thỏa đôi bên. Không nên làm nhân chứng sai, nghi oan cho người khác. Đôi khi những gì mình thấy, mình nghe chưa chắc là sự thật. Con người thường bị chính ngũ quan của mình lừa chính mình mà không biết, do vậy, càng không nên nhận xét, phán đoán, đưa ra kết luận bừa bãi. Kết tội người phải có bằng chứng cụ thể.
102. Dù là ai có phạm tội tài trời, cũng không nên tự ý trả thù riêng hoặc thế thiên hành đạo, nên giao cho chính quyền để pháp luật trừng trị.
103. Không nên lôi kéo người khác vào những thù hận của mình. Khiến người khác cũng trở nên sân hận và tìm cách trả thù cho mình.
104. Không nên nhờ người khác trả thù cho mình.
105. Không nên mướn xã hội đen đòi nợ dùm mình và cũng không nên dính đến xã hội đen.
106. Nếu có hẹn thì nên đến sớm hơn hoặc đúng giờ. Không nên để mọi người chờ đợi mình, nếu không đến đúng giờ thì nên báo trước.
107. Nếu được hẹn, người khác đến trễ hơn thì không nên giận, vẫn vui vẻ và trả lời rằng mình có dư nhiều thời gian, được ngồi yên tĩnh một mình cũng là một cái thú, giúp đầu óc được nghỉ ngơi thanh thản.
108. Dù ở hoàn cảnh nào cũng không nên làm cho người khác sân giận, lo lắng, buồn phiền và sợ hãi.
109. Đừng tạo cơ hội cho người khác phạm pháp. Ví dụ như không nên để xe nơi công cộng mà không khóa, ra vào nhà không khóa cửa, đeo dây chuyền, bông tai, hoặc đồ trang sức quý giá ra ngoài đường, giữ số tiền lớn trong mình ra ngoài phố,...
110. Đừng làm điều gì trái ý người khác.
111. Khi nói chuyện nên nắm được ý của người khác muốn gì để không nói trái ý người.
112. Không nên bác bỏ ý kiến, lời nói của người khác.
113. Không nên nói lên quan điểm của mình khi biết quan điểm đó khác với ý của người khác.
114. Không nên ích kỷ chỉ biết những gì mình thích, muốn người khác làm theo ý mình mà quên đi cảm nhận của người khác.
115. Buôn bán không nên cân non, cắt xén, bán hàng không chất lượng, có độc tố hóa học hoặc hàng giả.
116. Tự do cạnh tranh công bằng trên thương trường kinh doanh buôn bán, không nên dùng thủ đoạn gian trá hãm hại nhau.
117. Ở đâu có quyền hành, ở đó có đau khổ. Dù là gia đình, trường lớp, tập thể, cơ quan, công ty, chính phủ, trong đất nước...không nên ra lệnh, áp đặt, đàn áp, ép buộc, bắt nạt, xử phạt, đánh đập, la mắng, bắt buộc, ... người khác làm việc theo ý mình. Chức vị chỉ đi đôi với bổn phận, trách nhiệm và kỹ năng quản lý, lãnh đạo chứ không phải đi đôi với quyền hành.
118. Giữ gìn vệ sinh sạch sẽ nơi công cộng, không vứt rác bừa bãi, giữ gìn nhà cửa, nơi ngủ và nơi làm việc ngăn nắp.
119. Không nên trốn học, bỏ học, kết bạn xấu để gia đình và người thân lo lắng.
120. Không nên sử dụng kiến thức, sự hiểu biết để phá hoại, ví dụ như những hackers cài virus vào mạng internet, gửi thư rác.
121. Đừng bao giờ nghĩ đến chuyện tự tử. Hãy mạnh dạn đối diện với thực tế và vượt qua.
122. Không tranh chấp tài sản tiền bạc thừa kế với bất kỳ ai (anh chị em,...). Sự tranh chấp chỉ làm cho mất tình cảm giữa những người trong gia đình, con người trở nên độc ác hơn và kẻ bị hại có khả năng không còn mạng để sống. Nếu mình được thừa kế nhiều hơn, thì cùng bàn thảo lại với người trong gia đình để chia đều lại, giúp cho mọi người cùng vui vẻ.
123. Khi nghe ai đó nói chuyện về người thứ ba, không nên chỉ tin một chiều. Sự vội vã tin vào những gì người khác nhận xét hay đánh giá sẽ đem đến những hậu quả nghiêm trọng. Do vậy nên tìm hiểu kỹ thêm từ nhiều ý kiến khách quan khác.
124. Không nên cố gắng tìm hiểu những lời nói, việc làm của người khác trong quá khứ. Hãy luôn tin rằng họ có đầy đủ lý do chính đáng để nói và làm việc đó vào thời điểm đó.
125. Không nên có định kiến xấu về những người đã phạm tội, người đồng tính luyến ai bởi vì chính thành kiến đó có thể làm tổn thương đến họ.
126. Sự cư xử vô tình đối với người không thiện cảm, kẻ phạm tội, đôi khi sẽ gây cho họ tâm lý rằng họ bị cô lập với xung quanh. Từ đó sẽ nảy sinh những hậu quả nghiêm trọng. Do vậy dù là ai, người tốt hay xấu, người có thiện cảm hay không thiện cảm, chúng ta hãy luôn tôn trọng họ. Đối xử bình đẳng, thương yêu, dịu dàng, quan tâm và luôn nhìn họ với ánh mắt đầy thiện cảm.
127. Đừng bao giờ dồn người khác vào đường cùng. Ngược lại khi thấy ai rơi vào đường cùng thì nên ra tay giúp đỡ ngay.
128. Không nên hấp tấp, vội vã, luôn từ tốn khoan thai và bình tĩnh.
129. Sống nên biết đủ, nghèo chớ tham giàu, chớ sài sang, tiêu xài hoang phí.
130. Không nên tranh công với người khác.
131. Không nên mê tín, tin vào bói toán, tử vi, xem tướng; tin vào thần thánh, ma quỷ, thần linh, cầu cơ, cầu an, cầu siêu. Không nên đem những điều mê tín đó truyền bá vào lòng người khác.
132. Tôn trọng tôn giáo của mỗi người, không nên ép buộc hay dụ dỗ, hăm dọa ai theo tôn giáo của mình. Nên để họ chọn lựa và tự nguyện.
133. Lòng yêu thương của người thường thể hiện qua những hành động như cho tặng quà, lời khuyên, nhường nhịn, khuyên giải, góp ý, chia sẻ thông tin, quan tâm, hỏi thăm... Do vậy chớ làm mất lòng người.
134. Khi thấy ai bị bệnh thì hãy để người đó có thời gian và không gian nghỉ dưỡng, không nên nhờ họ làm bất kỳ việc gì cho mình, dù là một viêc nhỏ. Ví dụ như nhờ họ chở đi đây đi đó, hoặc mua đồ này đồ nọ,...
135. Không nên đánh giá giá trị của món quà, mà hãy cảm nhận được lòng yêu thương của mọi người với nhau. Đánh giá hoặc nhận xét giá trị của món quà chỉ làm cho tình cảm bị rạn nứt và sứt mẻ thêm.
136. Không nên phụ lòng tốt của người khác. VD: nhà mình có trồng cây nha đam, ông hàng xóm nói cây nha đam của ông trồng mới là cây có thể chữa bệnh và tốt cho tóc, ... lấy mà trồng. Ta nên nhận về trồng kẻo ông buồn.
137. Làm bất cứ nghề nào cũng phải có trách nhiệm, thiếu trách nhiệm sẽ dẫn đến tai nạn, chết người,...Ví dụ: làm bác sĩ không cẩn thận khám bệnh cho thuốc sai, mổ để quên dụng cụ trong thân thể người bệnh, thợ cơ khí sau khi ráp máy thấy dư ra một con ốc, vẫn bỏ qua, thợ điện để dây chạm mạch dẫn đến người dùng bị dựt và máy bị cháy, nông dân thì dùng thuốc sát trùng, phân urê làm cho trái cây chín hoặc xịt thuốc trừ sâu nhiều quá,...
138. Không nên để đồng tiền làm mờ mắt, vì đồng tiền con người có thể trở nên mất nhân tính. Ví dụ: làm gạo giả bằng nhựa, sản xuất sữa cho trẻ em có chất melamine, đồ chơi cho trẻ em có chất chì, xây dựng thì dùng vật liệu không đúng chất lượng,...
139. Không nên đánh, đá, bắt, cướp, làm thịt, hoặc bán những con thú nuôi thương yêu của người khác. Ví dụ như chó, mèo, chim, cá, gà, vịt, bò, heo, trâu,...
140. Không nên tổ chức đánh cờ bạc, cá độ, chơi đề, hốt hụi, đánh bi da, và các trò chơi cá độ trong nhà, bởi vì những trò đó sẽ ảnh hưởng đến con cháu của mình, khi chúng lớn lên chúng sẽ bị nhiễm những thói quen xấu thích chơi những trò đó. Khi không có tiền chúng sẽ tìm cách ăn cắp, trộm cướp và giết người,...
141. Không nên biến người khác thành con cờ, công cụ hoặc trò chơi của mình.
142. Không nên vì lợi ích, ích kỷ cá nhân, muốn đạt được mục đích của mình mà phải hy sinh tính mạng của người hoặc phá hoại hạnh phúc của người khác.
143. Không nên ép người khác thề độc.
144. Đừng dùng quyền hành bắt buộc người khác làm việc ác, hãm hại người, gian trá lừa gạt người.
145. Không nên ép người khác nói ra những gì họ không muốn nói hoặc đã hứa giữ bí mật với người khác, biết đâu họ có nổi khổ của họ.
146. Sự ngu muội, vô tư, không dũng, vô mưu, háo thắng, liều lĩnh, không lượng sức của tuổi trẻ thường làm nhiều việc dẫn đến hại mình, hại người. Do vậy hãy tự biết khả năng của bản thân, luôn cẩn thận, học hỏi, khiêm tốn và biết lắng nghe người lớn. Ngược lại, người lớn tuổi nên thông cảm cho tuổi trẻ, bỏ qua và tha thứ, từ từ uống nắn, giải thích lợi hại cho những người trẻ tuổi, chớ nên vì những sai lầm của họ mà trách mắng, phạt, đuổi họ.
Tóm lại, còn rất nhiều bài học hay cần được góp ý và học hỏi. Người sống biết yêu thương là người sống không làm khổ mình, khổ người và khổ các loài vật khác. Mặc dù trong cuộc đời ai ai cũng có lúc hoặc cố ý hoặc vô ý đã tự làm khổ mình, làm khổ người và làm khổ các loài vật khác, chỉ cần chúng ta biết rút ra kinh nghiệm trên lỗi lầm của mình và sửa sai thì đó là một điều đáng mừng và trân quý. Kính chúc các bạn, gia đình và toàn xã hội sẽ luôn tràn đầy niềm vui và hạnh phúc, luôn sống biết yêu thương để mang lại niềm vui và hạnh phúc cho mình, mọi người và muôn loài vạn vật khác.

Thứ Tư, 1 tháng 3, 2017

Học để làm gì

Học để làm gì?


Các học sinh, sinh viên và nghiên cứu sinh đang bận rộn chuẩn bị cho năm học mới. Hẳn bạn từng nghe ý nguyện của cha mẹ mình khi họ muốn bạn theo đuổi một ngành nghề cụ thể. Nhưng với câu hỏi “Học để làm gì?”, đâu là câu trả lời của riêng bạn?


Đi tìm câu hỏi đúng
Trong buổi học đầu tiên của lớp hóa đại cương cho sinh viên năm thứ nhất, tôi thường hỏi học trò: “Tại sao bạn ở đây?” và “Bạn muốn gì từ lớp này?”. Nhưng câu hỏi “Học để làm gì?” hẳn có tính bao quát hơn.
Câu trả lời tôi thường gặp trong hơn 20 năm dạy học là “Học để có công việc làm tốt và có cuộc sống ổn định”. Hoàn toàn hợp lý. Nhưng chỉ thế thôi sao?
Những năm học cấp III, tôi phần lo đi cày mướn để giúp gia đình, phần lo yêu đương ở lứa tuổi dậy thì nên thường quên lãng chuyện học hành. Cha tôi có lần khuyên: “Học là con đường ngắn nhất để giúp con thoát khỏi cảnh nghèo”. Lúc ấy, tôi hiểu rất đơn giản là học sẽ giúp mình có việc làm lương cao hơn, không còn thiếu thốn vật chất nữa.
Tôi đặt chân lên đất Mỹ cuối năm 1980, trong tay hai bộ đồ cũ, không một xu trong túi, không họ hàng, tiếng Anh được vài chữ để sinh tồn. Đúng 10 năm sau, tôi cầm trong tay tấm bằng tiến sĩ hóa học, rồi tới tấm séc lương khá hậu. Vâng, học đã giúp tôi thoát khỏi cảnh nghèo tiền, nghèo vật chất.

Những diện mạo của nghèo
Nhưng có những cái nghèo khác mà lúc trước tôi không hề biết mình cũng gặp. Có câu “Bạn không biết điều bạn không biết”.
Kiến thức thấp thì cơ hội cũng không có bao nhiêu. Bạn có thể làm gì khi không biết đọc, biết viết? Nếu biết đọc, biết viết, bạn sẽ có nhiều cơ hội hơn. Nếu có thêm kiến thức chuyên môn, cơ hội và lương cũng sẽ cao hơn. Sau khi làm xong postdoc, tôi có cơ hội làm việc phát triển sản phẩm ở công ty phần mềm, nghiên cứu ở công ty hóa, dạy đại học... Học đã giúp tôi thoát khỏi cái nghèo cơ hội.
Khi nghèo, ước mơ cũng nghèo. Tôi từng mơ một ngày có đĩa cơm tấm bì sườn, thêm cái đùi gà rôti thơm phức, một mình tôi ăn thoải mái, không chia cho ai cả.
Kiến thức chẳng những gia tăng khả năng mơ ước mà còn đa dạng hóa nó nữa. Giờ đây, ước mơ của tôi xếp thành nhiều loại: ước mơ trong nghiên cứu khoa học, ước mơ cho xã hội, ước mơ khởi nghiệp, ước mơ cá nhân...
Khi nghèo, niềm hi vọng vào tương lai cũng mong manh. Người nghèo thường có cái nhìn bi quan trong cuộc sống hơn. Có hướng suy nghĩ rằng chính vì tính bi quan và thiếu tích cực nên đã làm họ nghèo. Đây là một tranh cãi kiểu “con gà - quả trứng”, nhưng ai cũng đồng ý là khi vượt qua khỏi cảnh nghèo vật chất thì cái nhìn cuộc sống của bạn sẽ khách quan và tích cực hơn.
Khi nghèo thì cơ hội học hành cũng ít. Người ít học thường ứng xử cảm tính nhiều hơn, thay vì dùng lý trí. Kiến thức về luật pháp, hiểu biết về khả năng đánh mất nhân cách con người khi mất tự chủ là điều sẽ giúp lý trí điều tiết được cảm xúc. Bằng cấp không tạo nên con người có văn hóa ứng xử, chỉ những người biết dùng kiến thức, cách sống và ý thức xã hội mới giúp họ có cách ứng xử văn minh.
Khi nghèo, tình thương thường gói ghém trong phạm vi bản thân và gia đình. Mối quan tâm lớn nhất khi đó thường là cơm áo gạo tiền, do đó khó mà còn tâm trí để lo lắng đến cộng đồng và xã hội. Khi ta vượt qua được khỏi cảnh nghèo, ta thường thông cảm cho những người cùng cảnh như ta trước đây, quan tâm đến cộng đồng và xã hội hơn, muốn đem cơ hội đến và giúp những người kém may mắn hơn.
Nghèo, ít học thường đi đôi với tính tự ti, vì thế đưa đến cái nhìn bi quan và thiếu tích cực trong cuộc sống. Kiến thức mà bạn có sẽ làm bạn tự tin hơn như khi đưa ra những quyết định cá nhân ảnh hưởng đến cuộc sống của mình và gia đình, thay vì lệ thuộc người khác.
Khi nghèo, ít học, tiếng nói cũng bé, không mấy ai quan tâm, chẳng mấy ai nghe. Với học thức, bạn sẽ có cơ hội nắm giữ những vị trí cao hơn trong xã hội, tiếng nói của bạn lúc ấy sẽ có tầm ảnh hưởng sâu rộng hơn.
Người nghèo ít học thì ít quan tâm đến tác hại tới sức khỏe của thực phẩm, họ không có nhiều lựa chọn và có kiến thức để chọn. Với kiến thức, bạn sẽ quan tâm đến sức khỏe của mình hơn, quan tâm đến chất lượng của thực phẩm hơn, biết cách chăm lo cho sức khỏe của bản thân và người thân hơn.
Ít học thì bạn thường không có nhiều cơ hội để học hỏi kinh nghiệm quản lý tiền bạc vì tiền có thể chỉ đủ chi tiêu trong ngày, tuần hay tháng. Một bằng chứng rất rõ là đa số người nghèo trúng số độc đắc thường tiêu hết tiền thưởng và trở lại cảnh nghèo sau vài năm. Người có học thường có khả năng quản lý tiền bạc tốt hơn.
Mục tiêu của những kẻ lường gạt thường là những người ít học và muốn làm giàu nhanh. Với học thức và hiểu biết về luật pháp, kinh tế và xã hội, xác suất bị người khác lường gạt sẽ thấp hơn. Học sẽ giúp bạn khôn ngoan hơn trong việc phân biệt được thực hư trong cuộc sống.
Cái nghèo dễ làm tầm nhìn thường không quá một năm, như để dành lúa đến mùa gặt năm sau, nuôi heo để ăn tết cuối năm... ít ai nghĩ đến việc đầu tư cho 5 năm hay 10 năm, rất khó nói đến suy nghĩ cho cả cuộc đời hay cho thế hệ sau. Kiến thức sẽ giúp bạn có tầm nhìn dài hạn hơn, biết đầu tư cho tương lai, cho con cái...
Nếu hiểu được tầm quan trọng của việc học và cố gắng để ngày càng tiến bộ thì ngoài những hiệu quả nói trên cho cá nhân, bạn còn đóng góp xây dựng một xã hội văn minh và công bằng hơn. Nhưng bằng cấp chỉ đánh dấu mức độ kiến thức chuyên môn, bạn phải biết áp dụng cả kiến thức cuộc sống - thường được gọi là kỹ năng mềm.
Thành công, do đó, đòi hỏi và truyền cảm hứng để bạn tiếp tục trau dồi kiến thức, trau dồi bản thân suốt cuộc đời mình. 

Học để làm gì?

Khi còn bé chúng ta thường được ba mẹ khuyên rằng: "Con ơi cố học để biết thật nhiều, để thi tốt, để đạt điểm cao ". Ta lớn lên với tâm thế, học để lấy kiến thức là chính. Học để biết thật nhiều, nhưng học để biết liệu đã đủ, hay chăng chúng ta cần học để làm nhiều hơn.
 

 
Trong tiềm thức chúng ta đã luôn có một ý nghĩ rằng “học là để biết”. Chính vì thế mà sinh viên Việt Nam luôn được coi là biết rất nhiều. Cái gì chúng ta cũng đọc, cũng quan tâm. Nhưng chúng ta không thật sự đi sâu vào một lĩnh vực, một vấn đề nào.Thế nên nếu hỏi thật cặn kẽ thì hóa ra ta lại chẳng biết gì. Đương nhiên không phải tất cả các bạn sinh viên đều như vậy. Những bạn mong muốn tìm hiểu sâu về vấn đề mình quan tâm, đã không biết thì thôi, đã biết thì phải hiểu thật cặn kẽ thì thường sẽ thành công trong sự nghiệp sau này. Ví như các cụ đã bảo: Một nghề thì sống đống nghề thì chết. Hay cũng giống như việc bạn nhìn thấy người ta cắt kim cương. Kim cương là một vật thể siêu cứng, không một thứ kim loại nào có thể cắt được kim cương. Vậy người ta làm cách nào để cắt được. Rất đơn giản, người ta dùng tia laze, tia laze chính là một đại diện cho sự tập trung, và thử hỏi nếu chùm tia laze đó không tập trung vào một điểm thì liệu nó có cắt được kim cương không.Việc học cũng vậy, nếu học dàn trải, học để biết thật nhiều thì hiệu quả sẽ không cao.Tôi không phản đối việc học để lấy kiến thức. Học để mưu cầu kiến thức là một điều hết sức hoan nghênh. Nó giúp cho bạn trở nên uyên bác, hiểu biết hơn. Nhưng liệu học để biết đã đủ hay chưa. Ngày xưa chưa có Internet chưa có công cụ tìm kiếm google thì người biết nhiều sẽ rất có lợi ích. Học không chỉ để biết, học còn để hiểu và quan trọng hơn là học để làm và làm chuyên nghiệp.

Ngày nay đang là thời đại công nghệ thông tin, khi mà lượng thông tin là bình đẳng với nhau. Ta có thể ngồi ở nhà để tìm kiếm mọi thông tin liên quan đến một vấn đề nào đó ta quan tâm.Ta có thể giao tiếp với những chuyên gia cách chúng ta hàng ngàn cây số. Ta có thể tiếp cận lượng kiến thức khổng lồ trên mạng. Khi đó điều gì sẽ xảy ra. Liệu trí nhớ của ta có thể hơn được một công cụ tìm kiếm như Google. Khi mà lượng thông tin được tiếp cận một cách dễ dàng thì chúng không còn tạo nên sự cạnh tranh nữa. Con người không thể hơn nhau bởi thông tin và kiến thức họ biết nữa, họ chỉ có thể hơn nhau bởi kỹ năng tra cứu thông tin mà thôi.

Một điều nữa mà chúng ta phải công nhận rằng, xã hội không dùng được kiến thức trong đầu chúng ta, chỉ khi nào ta biến kiến thức đó thành sản phẩm dùng được thì khi đó kiến thức mới thực sự có giá trị. Nhiều người khoe rằng ta rất giỏi, ta biết rất nhiều, ta sẽ làm thay đổi cả thế giới. Nhưng chỉ khi nào chúng ta đem áp dụng những kiến thức đó vào trong thực tế cuộc sống hay trong công việc của chúng ta thì ta mới thấy được giá trị thực sự của nó. Chúng ta cũng thấy rằng trong xã hội có nhiều người rất có tiềm năng, nhưng xã hội không cần tiềm năng mà cần những người làm được việc. Tiềm năng mà không được phát huy đúng lúc, đúng chỗ thì cũng sẽ bị phí phạm. Một hành động còn hơn một đống lời bàn, một hành động bằng mười suy nghĩ.

Vậy điều quan trọng nhất để tạo nên lợi thế cạnh tranh chính là thay đổi tư duy.Từ việc nghĩ rằng học để biết, học để thi chuyển sang cách nghĩ học là để làm.

Khi ta tư duy học để làm thì ta sẽ biết học trọng tâm vào cái gì. Cái gì xã hội thật sự cần. Ta sẽ biết được cái gì bắt buộc phải học, cái gì cần học, cái gì nên học. Khi đó ta sẽ tìm được điểm giao nhau giữa những cái ta học và những cái xã hội cần. Điều đó cũng giống như đường cung và cầu trong kinh tế học. Khi ta học đúng cái xã hội cần thì ta sẽ thành công. Khi tư duy học để làm, ta sẽ quan tâm nhiều hơn đến việc trau dồi kỹ năng. Ví dụ như rất nhiều người cảm thấy lúng túng khi phải trình bày một đề tài hay một dự án. Công việc chuẩn bị rất công phu, đề án làm rất hoàn thiện nhưng không thể diễn tả hết được điểm tốt, điểm khác biệt của đề án và dẫn tới việc không thuyết phục được người khác ủng hộ đề án.

Khi ta tư duy học để làm ta sẽ quan tâm nhiều hơn đến kinh nghiệm thực tế thay vì lý thuyết đơn thuần. Các bạn sinh viên sẽ đi làm thêm để có được nhiều kinh nghiệm hơn, tự tin hơn, giao tiếp giỏi hơn.Và khi đó tự các bạn đã làm thu hẹp khoảng cách giữa những cái biết và những cái làm được.

Gieo nhân nào thì sẽ gặt quả đấy, học để biết thì biết rất nhiều, học để thi thì kết quả thi sẽ tốt, học để làm thì sẽ có khả năng làm việc tốt, sẽ thích ứng nhanh với môi trường làm việc sau này.




Những điều cần biết về kỹ thuật công não

Brainstorming là gì, nên bắt đầu từ đâu? Quan sát những điều mới mẻ, chú ý những điều bình thường hàng ngày,...là những kỹ thuật cơ bản để bạn Brainstorming một cách hiệu quả nhất. Tìm hiểu chi tiết trong bài viết sau đây.

Khám phá phương pháp tư duy sáng tạo hiệu quả - Brainstorming

Brainstorming là gì?

Brainstorming (hay kỹ thuật động não, công não) là một phương pháp tư duy sáng tạo đặc sắc, do Alex Osborn (Hoa Kỳ) sáng tạo ra. Phương pháp này dùng Mind Map là công cụ hỗ trợ để phát triển nhiều giải pháp sáng tạo cho một vấn đề. Nó hoạt động bằng cách nêu ra tất cả các ý tưởng xung quanh một vấn đề, để từ đó rút ra được những giải pháp mình cho là có khả thi nhất.
Để thực hiện brainstorming, bạn phải có một tâm trạng thật thoải mái, khi đó đầu óc bạn mới có thể nghĩ ra được nhiều cái hay ho. Bạn đừng tự gò ép chính mình, hãy để tất cả những ý nghĩ, hình ảnh được tuôn ra một cách phóng khoáng và ngẫu nhiên, càng nhiều càng tốt. Bạn đừng quan tâm ý kiến đó có ngớ ngẩn hay ngu ngốc đến thế nào, biết đâu chính cái mà bạn cho là ngớ ngẩn đó lại giúp bạn có được một ý tưởng cực kỳ sáng tạo và độc đáo mà chưa ai nghĩ tới.

Lợi ích của phương pháp Brainstorming

Tiếng Anh có câu thành ngữ “Two heads are better than one” – xin được chuyển ngữ tạm là “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Đại ý là một nhóm người cùng suy nghĩ thì luôn hiệu quả hơn một cá nhân, về cả thể lực lẫn trí tuệ. Sự đa dạng về lối suy nghĩ, trí tuệ, kinh nghiệm, cách nhìn và văn hóa của các cá nhân trong nhóm tạo điều kiện cho một loạt ý tưởng đa chiều được sản sinh ra. Đây là một trong những trường hợp mà số lượng quan trọng hơn chất lượng. Chính nhờ một khối dữ liệu lớn về giải pháp mà nhóm có thể gọt rũa hoặc lựa chọn ra giải pháp/ý tưởng vẹn toàn nhất. Đó chính là lợi ích to lớn nhất của phương pháp brainstorming.

Một số nguyên tắc cơ bản của kỹ thuật động não - brainstorming

  • Tôn trọng mọi ý tưởng đưa ra: Khi các ý tưởng được đưa ra, không được phép chỉ trích, phê bình ngay. Tất cả các ý tưởng đều được ghi chép lại và phân tích đánh giá ở các bước sau.
  • Tự do suy nghĩ: Không giới hạn việc đưa ra các ý tưởng bay bổng kể cả những ý tưởng khác thường bởi trên thực tế có những ý tưởng kỳ quặc đã trở thành hiện thực.
  • Kết nối các ý tưởng: Cải thiện, sửa đổi, góp ý xây dựng cho các ý tưởng. Các câu hỏi thường đặt ra: Ý tưởng được đề nghị chất lượng thế nào? Làm thế nào để ý tưởng đó đem lại hiệu quả? Cần thay đổi gì để ý tưởng trở nên tốt hơn?...
  • Cần quan tâm đến số lượng các ý tưởng: Tập trung suy nghĩ khai thác tạo ra khối lượng lớn các ý tưởng để sau đó có cơ sở sàng lọc. Có hai lý do chính để cần số lượng lớn các ý tưởng. Thứ nhất những ý tưởng lúc đầu học viên đưa ra thông thường là các ý tưởng hiển nhiên, cũ, ít có tính sáng tạo, vì vậy cần có phương pháp để học viên tạo ra nhiều ý tưởng mới. Thứ hai các ý tưởng giải pháp càng nhiều, càng có nhiều ý tưởng để lựa chọn.

Các kỹ thuật cơ bản để bạn Brainstorming hiệu quả

Khi bắt đầu brainstorming, bạn hãy chú ý đến những kỹ thuật cơ bản sau đây:

1. Quan sát những điều mới mẻ

Khi đứng trước một đồ vật là lùng, câu hỏi đầu tiên của bạn sẽ là chính xác đây là cái gì ? nó có công dụng gì và dùng ra sao ? chính sự phán đoán khi không biết rõ sẽ dẫn tới những ý tưởng thú vị, ngay cả khi những phán toán đó hoàn toàn không đúng với thực tế. Đã bao giờ bạn nghĩ một cây anten có kiểu dạng lạ là một cây cột thu lôi hay chưa ? Hay mỗi ngày khi đi về nhà bạn đều đi đúng một con đường duy nhất, nhìn cùng một cảnh vật nên lâu ngày sẽ chẳng buồn ngó đến cảnh vật xung quanh. Hãy thử một lần khám phá một con đường mới về nhà mà bạn chưa từng đi, khi đó bạn thấy bạn sẽ phải chú ý đến cảnh vật xung anh nhiều hơn. Du lịch, gặp gỡ những người bạn mới đều là những cách để khám phá và tích lũy những ý tưởng mới để có thể sử dụng khi cần thiết.

2. Chú ý những điều bình thường hàng ngày

Một vết loang trên bàn gỗ trên bàn làm việc, đã bao giờ bạn nhìn kỹ nó thật gần để tìm hiểu nó là do trà, café hay thứ gì để lại… Nhìn kỹ những bảng hiệu, con người trên đoạn đường đi về hàng ngày, bạn sẽ nhận thấy những điều vô cùng ngạc nhiên mà bình thường bạn bỏ qua hay nghĩ là không cần thiết. Hãy tìm cách suy nghĩ phát triển những điều mình thấy, ví dụ như nhìn thấy một ngã tư, bạn hãy hình dung nếu có đèn tín hiệu giao thông thì sẽ thế nào ? nếu không có thì sao hay thậm chí giải sử có một vòng xoay thì giao thông và cảnh vật sẽ thế nào ? Cuối cùng, hãy quan sát thật kỹ những thành phần cấu tạo nên thứ bạn đang nhìn. Có trong tay một hộp quà, hãy khoan vội mở nó ra để lấy thứ bên trong, hãy quan sát thật kỹ tới hộp đựng, giấy gói, nơ, hoa văn trên giấy, kết dính ra sao ? …

3. Kết hợp nhiều ý tưởng để tạo ra ý tưởng mới:

Đây là một bước vô cùng quan trọng trong việc tìm kiếm những ý tưởng mới. Giả sử ta có một cây đèn và một chiếc đồng hồ trong tay, nếu kết hợp chúng lại thì sẽ như thế nào ? một cây đèn có gắn đồng hồ ? một chiếc đèn hẹn giờ bật tắt ? một chiếc đồng hồ dạ quang ? hay đồng hồ sử dụng năng lượng ánh sáng ? một chiếc đồng hồ du lịch có thể phát sáng để soi đường ? Kết hợp hai hay nhiều thứ khác nhau lại với nhau theo chức năng, hình dạng, cấu tạo và bạn sẽ bất ngờ với những ý tưởng mới nghe có thể là vô lý những hoàn toàn có thể là bước bắt đầu cho một sản phẩm đột phá.

Những điều cần biết về kỹ thuật công não - BrainstormingNhững điều cần biết về kỹ thuật công não - Brainstorming

4. Đặt ý tưởng trong những điều kiện khác nhau

Cố gắng khai thác sự đối nghịch với ý tưởng đang có sẽ giúp ta có 2 ý tưởng hoàn toàn khách nhau. Ví dụ như tại sai phải xây một ngôi nhà đầy góc cạnh mà không xây một ngôi nhà tròn ? hay tại sao phải lắp ráp một máy tính có kích thước lớn mà không lắp ráp một máy tính thật nhỏ gọn, tiết kiệm diện tích ?
Bên cạnh đó hãy đặt ý tưởng vào trong những điều kiện khác thường. Ví dụ một chiếc máy tính thu nhỏ hết cỡ thì sẽ như thế nào ? Có thể xách tay ? có thể bỏ túi áo ? hay thậm chí có thể ghép dưới da ?, một chiếc bánh nếu phóng thật lớn trông nó sẽ ra sao ?

5. Đặt ra những giới hạn và luật lệ khi Brainstorming

Việc liệt kê các ý tưởng một cách lan tràn sẽ dễ dẫn tới đi quá xa vấn đề cần giải quyết nếu bạn không đặt ra một hàng rào giới hạn nó và thực hiện theo. Đây là một kỹ năng mềm cần thiết trong quá trình thực hiện Brainstorming. Ví dụ, khi nghĩ về quảng cáo một loại nước hoa thì bạn không phải suy nghĩ phát triển ra tới tình hình thế giới, hay khi tìm hiểu về con đường thì không cần phát triển ý tưởng lan qua lãnh vực thể thao chẳng hạn. Giới hạn hợp lý giúp bạn tập trung vấn đề và kiếm thật nhiều ý tưởng hữu dụng mà không mất quá nhiều thời gian, nhưng nếu giới hạn quá nhỏ có thể sẽ giới hạn luồng suy nghĩ của bạn.

Một số lưu ý quan trọng khi sử dụng kỹ thuật động não (brainstorming)

  • Đừng cố tìm một câu trả lời đúng: Tùy theo tầm nhìn và sự hiểu biết của mỗi người mà mỗi vấn đề có thể có nhiều câu trả lời đúng, nên đừng cố tìm một câu trả lời đúng nhất.
  • Đừng luôn cố gắng tuân theo logic: Sự hợp lí không phải lúc nào cũng chiếm ưu thế, mà thường có nhiều sự trái ngược giữa tình cảm của con người và nguyên tắc của tổ chức.
  • Đừng tuân theo các nguyên tắc một cách cứng nhắc: Nếu muốn đổi mới và cải tiến thì cần biết nghi ngờ và xem xét những giới hạn không rõ ràng đối với tư duy.
  • Đừng quá lệ thuộc vào hiện thực: Có nhiều ý tưởng không thực tế có thể trở thành nhữnh bàn đạp để sáng tạo.
  • Đừng cố tránh sự không rõ ràng: Sự tư duy sáng tạo có thể bị cản trở bởi sự quá khách quan hay cá biệt hoá.
  • Đừng quá lo sợ và cố tránh thất bại: Sự lo sợ thất bại có thể làm tê liệt quyết tâm thực hiện những ý tưởng hay.
  • Thêm một chút hồi tưởng: những trò chơi khôi hài thời thơ ấu sẽ có thể là những gợi ý hay cho hiện tại, hoặc một hình tượng đã bắt gặp ở đâu đó cũng có thể là một điểm trong ý tưởng.
  • Tránh tình trạng quá biệt lập: Sự kết hợp chéo giữa các lĩnh vực chuyên môn khác nhau thường rất hữu hiệu trong việc xác định tìm giải pháp.
  • Đừng quá quan trọng hóa vấn đề: Sự hài hước, không khí thoải mái làm giảm căng thẳng và thúc đẩy khả năng sáng tạo.
  • Luôn luôn sáng tạo bắt đầu bằng ý tưởng mới: bằng cách nuôi dưỡng những ý tưởng nhỏ bé bình thường và biến những ý tưởng ấy thành hiện thực, chúng ta sẽ có thể phát triển và thực hiện những ý tưởng lớn hơn nhiều trong tương lai.
Brainstorming (kỹ thuật công não) là công cụ tốt nhất để tìm kiếm những ý tưởng sáng tạo trong một tập thể, brainstorming là lúc mọi người cùng ngồi lại với nhau, cùng suy nghĩ, cùng trao đổi và đưa ra những ý tưởng mới lạ. Tuy nhiên, Brainstorming không phải dễ thực hiện vì một lý do dễ hiểu – mọi người thường có tâm lý giấu giếm những gì đang suy nghĩ vì sợ sự bình phẩm, dèm pha từ những người khác. Hi vọng những nguyên tắc và kỹ thuật thực hiện phương pháp brainstorming trên đây sẽ giúp bạn "động não" một cách hiệu quả nhất. Theo dõi kenhtuyensinh thường xuyên để học thêm nhiều kỹ năng sống khác như kỹ năng thuyết trình, kỹ năng giao tiếp,... nhé!
Bài viết thuộc chủ đềkỹ năng sống, tư duy sáng tạo, kỹ thuật động não, phương pháp thực hiện brainstorming, lợi ích của phương pháp brainstorming, các nguyên tắc của brainstorming.