Thứ Tư, 20 tháng 5, 2015

Lịch Sử Về Vua Gia Long(Nguyễn Ánh)

Gia Long (chữ Hán: 嘉隆; 8 tháng 2 năm 1762 – 3 tháng 2 năm 1820) Ông tên thật là Nguyễn Phúc Ánh (阮福暎 hoặc 阮福映; thường được gọi tắt là Nguyễn Ánh), trị vì từ năm 1802 đến khi qua đời năm 1820.
Về khí chất ,Là cháu của vị chúa Nguyễn cuối cùng ở Đàng Trong, sau khi gần như toàn bộ gia tộc bị quân Tây Sơn bắt giết năm 1777, 17 tuổi Gia Long đã cầm đầu binh tướng, nắm vững lòng dân, bốn phen vinh nhục Gia Định, nhiều tao siêu bạt, trôi dạt cả vào Tiêm La, nương nhờ người Thái, cólúc phải hy sinh cả tính mạng mà đánh dẹp giặc Miên, Mã Lai cho Tiêm để mua thiện cảm của người. Suốt 25 năm xông xáo khắp Đồng Nai, Thuận Hóa, vượt non trèo biển trong vòng khói lửa mịt mùng mà không bao giờ lui bước, con người ấy thật là một chiến sĩ. Trước điểm này ta không thể không vỗ tay cho Thế Tổ nhà Nguyễn.
Về ngoại giao, thời của vua Gia Long, ông cũng không sinh ra chuyện cấm đạo. Giết hại người giáo sĩ, tàn sát giáo dân hay bế quan tỏa cảng như đời con cháu. Trái lại người Pháp vào buôn bán, ông cũng lấy làm rộng rãi, không bắt bẻ để tỏ cái lòng cảm ơn ông Bá Đa Lộc cùng chiến hữu 20 người với súng đạn, thuốc pháo trên chiến hạm Medusa đã từ Pháp quốc đến giúp sức dù không được vua Louis XVI chấp thuận.
Về chính trị, khi sức cùng lực tận, Gia Long đã cho giám mục Bá Đa Lộc đem con đi cầu cứu nước Pháp rồi luôn luôn giao thiệp khéo léo với các nước lân bang để lấy ngoại viện mà cả các nước Miên, Tiêm, Lào thường đem quân qua đánh Tây Sơn giúp mình. Tuy mang người ngoài về đánh người nhà nghe là không đẹp lắm. Nhưng khi sự nghiệp đã thành, ngôi quốc chủ đã vững, Gia Long thay đổi thái độ, kẻ cả với Tiêm, đặt Miên và Lào vào vòng lệ thuộc. Ngoại giao đến như thế thì thật là khéo léo, tiến thoái kinh quyền mau lẹ chắc cũng chỉ đến vậy mà thôi.
Hiềm một nỗi khi xong việc, ngài không bảo toàn cho công thần mà lại lấy những chuyện nhỏ nhặt mà bắt tội rồi đem giết hại. Thật là đáng tiếc mà không thể không nhớ lại việc vua Hán Cao Tổ năm xưa.
Và nữa là việc dời đô về Phú Xuân (Huế) cũng là một việc rất dở, đó là một mảnh đất gầy, dân thưa, của ít, lại bất lợi cả về thủy bộ nếu xét về thủy bộ. Trái lại Bắc Hà (Hà Nội) dân đông, ruộng lắm, anh hùng đời nào cũng sẵn sàng chống ngoại xâm như trúc chẻ ngói tan mà lại bỏ thật uổng.
Nhưng rộng lòng mà xét đoán, vua Gia Long là một ông vua tài trí, rất khôn ngoan, trong 25 năm trời chống nhau với Tây Sơn, trải qua bao hoạn nạn mà không bao giờ ngã lòng, cứ một niềm khôi phục. Ngài có cái đức tính rất tốt của những kẻ lập nghiệp lớn là đức tính biết chọn người mà dùng, khiến cho những kẻ hào kiệt ai cũng nức lòng mà theo giúp. Bởi vậy mà không những thống nhất được nghiệp cũ mà còn sửa sang được mọi việc làm cho nước ta thành một nước cường đại, xưa nay chưa từng thấy vậy.

---------------------------------------------------------------------------------------------
Gia Long và Quang Trung: Chuyện đời vay trả 

“ Trẫm nghe, vì chín đời mà trả thù là nghĩa lớn kinh Xuân Thu…”


Sau 25 năm chiến đấu kiên trì và gian khổ, ngày mồng 3 tháng 5 năm Tân Dậu (13/6/1801) Nguyễn Phúc Ánh (vua Gia Long) tái chiếm kinh đô Phú Xuân

Ngay sau khi chiếm lại Phú Xuân và trong khi vua Cảnh Thịnh của Tây Sơn đang còn làm chủ ở miền Bắc thì Nguyễn Vương đã cho « Phá hủy mộ giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ, bổ săng, phơi thây, bêu đầu ở chợ » (Thực lục I, tr.473)

Sau khi chiếm được Bắc Hà, bắt được trọn gói vua tôi, anh em vua Cảnh Thịnh, hoàn thành cuộc thống nhất đất nước từ Nam chí Bắc, vua Gia Long khải hoàn về kinh. 

Ngày giáp tuất tháng 11 năm Gia Long thứ 1 (7 tháng 11 Nhâm Tuất, 1/12/1802) vua đem tù binh ra làm lễ hiến phù ở Thái Miếu. Hiến phù là lễ trình diện tù binh trước bàn thờ tổ tiên, và Thái Miếu là nơi thờ 9 đời chúa Nguyễn.

Sau lễ, « Sai Nguyễn Văn Khiêm là Đô thống chế dinh Túc trực, Nguyễn Đăng Hựu là Tham tri Hình bộ áp dẫn Nguyễn Quang Toản [vua Cảnh Thịnh] và em là Quang Duy, Quang Thiệu, Quang Bàn ra ngoài cửa thành, xử án lăng trì, cho 5 voi xé xác, đem hài cốt của Nguyễn Văn Nhạc và Nguyễn Văn Huệ giã nát rồi vất đi, còn xương đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản và mộc chủ [bài vị] của vợ chồng Huệ thì đều giam ở Nhà đồ Ngoại [Ngoại Đồ Gia, cơ quan chế tạo của triều đình, sau gọi là Võ Khố] (năm Minh Mệnh thứ 2 đổi giam vào ngục thất cấm cố mãi mãi). Còn đồ đảng là bọn Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng đều xử trị hết phép, bêu đầu cho mọi người biết. Xuống chiếu bố cáo trong ngoài. » (Thực lục I, tr.531) 

Trong chiếu bố cáo cho toàn dân được rõ về lễ hiến phù ngày 7 háng 11 Nhâm tuất, có câu mở đầu : « Trẫm nghe, vì chín đời mà trả thù là nghĩa lớn kinh Xuân Thu … » và kết thúc bằng câu « Nhạc Huệ trời đã giết rồi, cũng đem phanh xác tan xương, để trả thù cho Miếu Xã, rửa hận cho thần nhân. » (Thực lục I, tr.532,533) Theo tài liệu của Bissachère, trước khi nhận lãnh cái chết thảm khốc, anh em vua Cảnh Thịnh còn bị bắt phải chứng kiến cảnh lính tráng tiểu tiện vào sọt đựng hài cốt của cha (Nguyễn Huệ) và bác (Nguyện Nhạc) (theo hồi ký của Bissachère) trước khi hài cốt bị đem « giả nát rồi vất đi ».

GIA LONG ĐÃ PHẢI TRẢ THÙ , Vì lẽ: 

“Không kể cá nhân ông bị quân đội Tây Sơn truy đuổi nhiều lần suýt chết, vua Gia Long thâm thù nhà Tây Sơn vì ba việc chính: thứ nhất, năm 1777 Định Vương Nguyễn Phúc Thuần [chú ruột vua Gia Long], Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương [em chú bác ruột] và Nguyễn Phúc Đồng [anh ruột] bị quân Tây Sơn bắt giết ở Gia Định. 

Thứ nhì, hai người em [ruột] của Gia Long là Nguyễn Phúc Mân và Nguyễn Phúc Thiển bị chết về tay quân Tây Sơn năm 1783. 

Thứ ba, vua Quang Trung cho quật mộ của Nguyễn Phúc Côn (phụ thân của Gia Long), đem hài cốt đổ xuống sông năm 1790.” (Việt Sử Đại Cương, Tập 2 Trần Gia Phụng )

Quang Trung Nguyễn Huệ đã đào hết lăng tẩm của 8 đời chúa Nguyễn tại Thừa Thiên, lấy hài cốt ném xuống sông. Việc này cộng với việc giết chết vị chúa thứ 9 là Định Vương Nguyễn Phúc Thuần tại Long Xuyên năm 1777 thì quả nhiên vua Gia Long tính sổ 9 đời không sai chút nào. 

Vì vậy có thể nói được rằng chữ 9 đời có một ý nghĩa rất cụ thể. 

Đây là 8 đời chúa Nguyễn:
1.Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558-1613);
2.Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635); 
3.Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (1635-1648); 
4.Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) 
5.Chúa Ngãi Nguyễn Phúc Thái (1687-1691); 
6.Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu (1691-1725); 
7.Chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ (1725-1738); 
8.Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765);

Về ông tổ Nguyễn Kim, có lẽ vì không biết đích xác mộ phần nẳm ở đâu trong cái bát ngát của núi Triệu Tường ở Thanh Hóa, nên vua Quang Trung đành phải cho qua mà không tình sổ.

Tám đời chúa Nguyễn này không có hận thù gì với anh em Tây Sơn, đã có công rất lớn đối với dân tộc và đất nước khi kế tục nhau mở nước về phương Nam, đến tận Cà Mau, Châu Đốc, cống hiến cho tổ quốc non một nửa nước, trài dài từ Phú Yên trở vào Nam, với đất đai trù phú, nguồn lợi dồi dào, rộng hơn lãnh thổ nam tiến của các triều Lý, Trần, Hồ và Hậu Lê cộng lại.

Sau 1802 Gia Long cho xây lại các lăng 9 chúa Nguyễn và cha mình , đôn nền lên cao, xây lăng có bửu thành, bình phong, nhưng than ôi , không có hài cốt trong đó 

Tất cả là mộ gió ,mộ vọng

(St)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét