Thứ Tư, 20 tháng 5, 2015

Giá Trị Của Triết Học

Giá Trị của Triết Học
Xin kể một câu chuyện: Có một triết gia ngồi trên một chiếc thuyền nhỏ qua sông. Giữa trời đất mênh mông vị triết gia vừa ngắm cảnh vừa hỏi người lái đò: “Ông có biết toán học không?” Người lái đò trả lời: “Không biết”. Triết gia hỏi lại: “Ông có biết hoá học không?”. Người lái đò trả lời: “Không biết”. Vị triết gia than: “Thật đáng tiếc! Như thế là ông đã mất đi một nữa cuộc đời”. Bỗng một cơn giông ập tới, thuyền chòng trành và lật nhào, người lái đò và vị triết gia rơi xuống nước. Người lái đò gào lên hỏi vị triết gia: “Thưa ngài! Ngài có biết bơi không?” Vị triết gia trả lời: “Không biết!” Người lái đò thất vọng nói: “Thế thì Ngài mất hết toàn bộ cuộc đời rồi!”.
Các nhà triết học tuy thích nói, nhưng lời họ nói hầu như chẳng ích lợi gì, không thể làm cho mùa màng tốt hơn, không thể làm cho máy bay bay nhanh hơn, càng không thể tự cứu mạng sống của mình khi chới với trong dòng nước. Tóm lại, trong suy nghĩ của nhiều người, triết học không thể giải quyết những vấn đề thực tế, không thể làm thức ăn nuôi sống con người. Triết học quả là một thứ không thể ăn được, nhưng như Aristole (384 – 322 tr.CN) từng nói, suy nghĩ về triết học như thể là một sự việc tiến hành sau khi đã no bụng. Sở dĩ chúng ta cần có triết học, cần có thứ mang tính tinh thần đó bởi vì chúng ta là con người, chúng ta không chỉ có Sống mà còn Muốn sống và hy vọng Sống tốt hơn. Cho nên chúng ta mới tìm phương thức sống, đi tìm ý nghĩa cuộc sống.
Xin kể một câu chuyện nữa như sau: Có một cậu bé sống trong cô nhi viện, thường âu sầu hỏi viện trưởng: “Một đứa trẻ không ai cần đến như con thì sống liệu có ý nghĩa gì?” Viện trưởng cười mà không trả lời. Một hôm Viện trưởng giao cho cậu bé một hòn đá và nói: “Mai con đem hòn đá ra chợ bán, nhưng nhớ là đừng bán thật, cho dù họ trả bao nhiêu tiền cũng không bán”.
Ngày hôm sau cậu bé mang hòn đá ra chợ, không ngờ rất nhiều người không chỉ hỏi mua, mà còn đòi mua với giá cao. Trở về nhà cậu bé vui mừng nói với Viện trưởng. Viện trưởng cười và bảo với cậu bé ngày mai lại mang hòn đá ra bày ở chơ đá quý. Rốt cuộc giá trị của hòn đá đã tăng lên gấp 10 lần. Cậu bé càng không chịu bán nên hòn đá đã được mọi người truyền tụng là loại “quý hiếm trên thế gian”.
Cậu bé vui sướng ôm hòn đá trở về cô nhi viện, kể hết mọi việc cho Viện trưởng nghe. Lúc đó Viện trưởng mới chậm rãi nói: “Gía trị của cuộc sống cũng như giá trị của hòn đá, trong hoàn cảnh khác nhau, nó có ý nghĩa khác nhau. Một hòn đá tầm thường nhưng do ta biết quý trọng, nâng niu giá trị của nó thì lập tức được coi là của quý hiếm.
Con người chẳng phải cũng giống như hòn đá đó sao? Chỉ cần tự biết quý trọng mình, tự trân trọng cuộc đời mình nó sẽ có giá trị và có ý nghĩa. Kỳ thực bức xúc của cậu bé lại là loại bức xúc mang tính triết học. Sự bức xúc này đến từ sự chất vấn của bạn đối với cuộc sống. Công năng của triết học chính là giúp bạn phát hiện được ý nghĩa cuộc sống ở đâu và bạn nên thực hiện nó như thế nào? Do đó triết học giúp bạn có được một tinh thần chứ không chỉ chìm đắm trong những đòi hỏi về vật chất.
Sưu tầm

Danh tác: Các vấn đề triết học Triết học. Tác giả: Bertand Russell.
Chương 15.
..
Chúng ta đã điểm qua một cách vắn tắt và rất thiếu sót về các vấn đề triết học Giờ đây để kết luận có lẽ chúng ta nên xét xem giá trị của triết học là gì và tại sao phải học triết học. Vấn đề này càng cần được xét đến vì sự kiện có nhiều người do ảnh hưởng của khoa học hay công việc thực tế, có khuynh hướng nghi ngờ rằng phải chăng triết học cũng chỉ là những chuyện tầm phào vô tội vạ, những sự phân biệt chi li vô ích, và những tranh cải về các vấn đề mà chúng ta không thể nào biết được.
Quan điểm này về triết học có vẻ phát xuất một phần từ khái niệm sai lạc về các mục đích của cuộc đời, một phần từ khái niệm sai lạc về loại ích lợi mà triết học tìm cách đạt tới. Nhờ các phát minh của nó, khoa học vật lý mang lại lợi ích cho vô số những người hoàn toàn không biết gì về nó, vì thế khoa vật lý được khuyên học, không chỉ vì ảnh hưởng của nó đối với sinh viên, mà vì ảnh hưởng của nó đối với loài người nói chung. Lợi ích này không thuộc về triết học. Nếu học triết học có lợi ích nào với những người không phải là sinh viên triết học thì đố cũng là một lợi ích gián tiếp mà thôi. Thông qua ảnh hưởng của nó trên đời sống của những người học triết học. Do đó chính trong những ảnh hưởng này chứ không phải ở đâu khác, mà giá trị của triết học được chúng ta tìm kiếm.
Hơn nữa, nếu chúng ta không muốn thất bại trong cố gắng của mình để xác định giá trị của triết học, chúng ta trước hết phải giải phóng tâm trí của chúng ta khỏi các thành kiến của những cái được gọi sai từ các con người " thực tế ". Con người " thực tế" thường được dùng để chỉ những con người chỉ nhìn nhận các nhu cầu vật chất, chỉ biết rằng con người cần có nhu cầu cho thân xác, nhưng quên mất cung cấp nhu cầu lương thực cho tinh thần. Nếu mọi người đều sống sung túc, nếu cảnh nghèo khó và bệnh tật giảm thiểu đến mức thấp nhất, thì vẫn còn nhiều cái phải làm để tạo ra một xã hội có giá trị; Và ngay trong thế giới hiện nay, ích lợi của tinh thần cũng quan trọng ít ra là ngang bằng với lợi ích của thân xác. Giá trị của triết học chỉ có thể được tìm thấy giữa các lợi ích của tinh thần mà thôi. Và chỉ những ai không dửng dưng trước các lợi ích này mới có thể được thuyết phục để tin rằng học triết học là không phí thời giờ.
Giống như mọi môn học khác, triết học chú yếu nhắm đến tri thức. Tri thức mà nó hướng đến là loại tri thúc tạo sự thống nhất và hệ thống cho toàn thể khoa học và là loại tri thức phát sinh từ việc xem xét có phê phán các cơ sở của các sự xác tín, thành kiến, và niềm tin của chúng ta. Nhưng không thể nói rằng, triết học đã đạt được rất nhiều thành công trong các cố gắng của nó để cung cấp các câu trả lời dứt khoát cho các câu hỏi của nó. Nếu bạn hỏi một nhà toán học, một nhà khoáng học, nhà sử học hay bất cứ nhà trí thức nào rằng khoa học của họ đã xác nhận được những chân lý chắc chắn nào, câu trả lời của họ sẽ kéo dài mãi miễn là bạn còn muốn nghe. Nhưng nếu bạn đặt cũng câu hỏi này với một nhà triết học, nếu thành thật người ấy thú nhận rằng môn học của mình đã không đạt được kết quả tích cực nào giống như khoa học khác đã đạt được. Đúng là điều này có thể được giải thích một phần bởi sự kiện rằng: Ngay cả khi có thể đạt được một chân lý dứt khoát về bất cứ vấn đề gì, vấn đề này sẽ không còn được gọi là triết học, nó sẽ trở thành một khoa học riêng.Toàn thể môn học về các thiên thể, nay thuộc khoa thiên văn học, ban đầu từng được bao gồm trong triết học; tác phẩm của Newton đã được gọi là “ Các nguyên tắc toán học của Triết học tự nhiên “ Tương tự, môn học về tinh thần con người, mà cho tới gnầ đây thôi vẫn còn là một phần của triết học nay đã tách ra khỏi triết học để trở thành khoa học tâm lý, phân tâm học.. Thế nên nhìn chung sự không chắc chắn của triết học có vẻ bề ngoài hơn là thực tế: Các vấn đề đã có câu trả lời dứt khoát thì được đặt vào các khoa học, trong khi chỉ các vấn đề mà hiện tại không thể giải quyết câu trả lời dứt khoát, mới tạo thành phần còn lại gọi là Triết học.
Tuy nhiên đây chỉ là một phần sự thật liên quan đến sự không chắc chắn của triết học. Có nhiều vấn đề – trong số đó có những nguyên nhân sâu xa đến đời sống tinh thần của chúng ta – mà gần như chúng ta có thể thấy sẽ không bao giờ có thể giải quyết bởi trí khôn của chúng ta, trừ khi trí khôn có những khả năng hoàn toàn khác với bây giờ.Vũ trụ có một kế hoạch hay một mục đích thống nhất nào không, hay nó là sự kết hợp ngẫu nhiên của các phân tử? Ý thức có phải là một thành phần thường hằng của vũ trụ, mang lại hy vọng cho sự gia tăng vô hạn về khôn ngoan, hay nó chỉ là một sự tình cơ nhất thời trên một hành tinh nhỏ, mà nơi đó cuối cùng sự sống sẽ trở nên không thể có được ? Thiện và ác có quan trọng cho vũ trụ không, hay chỉ cho con người ? Các câu hỏi như thế được hỏi bởi triết học, và các nhà triết học khác nhau cung cấp những câu trả lời khác nhau. Nhưng có vẻ là dù các câu trả lời có thể được tìm ra bằng những cách nào khác hay không, không một câu trả lời nào của các nhà triết học có thể chứng minh được. Thế nhưng dù có rất ít hy vọng tìm ra một câu trả lời, nhiệm vụ của triết học vẫn là tiếp tục xem xét các câu hỏi đấy, để làm cho chúng ta có ý thức tầm quan trọng của chúng, xem xét mọi phương thức để giải quyết chúng, và làm sống mãi sự quan trọng tâm suy tư của chúng ta về vũ trụ, để sự quan tâm này không bị hủy diệt bởi việc chúng ta giới hạn mình vào tri thức chắn chắn một cách dứt khoát.
Thực ra, giá trị của triết học phải được tìm kiếm chủ yếu nơi chính sự không chắc chắn của nó. Người không có chút triết học nào trong đời sống của mình thì sống đời mình giam hãm trong các thành kiến bắt nguồn từ nhận thức thông thường, từ các niềm tin quen thuộc của thời đại hay đất nước mình, và từ sự xác tín đã lớn lên trong trí khôn của mình mà không có sự cộng tác hay ưng thuận với lý trí của mình. Với những con người như thế, thế giới có khuynh hướng trở nên xác định, hữu hạn, hiển nhiên; các sự vật thông thường không khơi dậy cho họ thắc mắc gì, các khả năng khác lại bị bác bỏ một cách đầy khinh bỉ. Ngược lại, ngay khi chúng ta bắt đầu tìm hiểu triết học, chúng ta thấy rằng ngay cả những điều bình thường nhất của cuộc sống hàng ngày cũng dẫn đến các vấn đề mà chỉ có thể có các câu trả lời không hoàn toàn. Tuy triết học không thể nói cho chúng ta một cách chắc chắn đâu là câu trả lời cuối cùng cho các mối hoài nghi mà nó nêu lên, nó có thể gợi ý rất nhiều khả thể thể để mở rộng tư tưởng của chúng ta và giải phóng chúng khỏi sự thống trị của tập quán. Như thế, trong khi nó giảm bớt cảm giác chắc chắn của chúng ta về sự vật là gì, nó làm tăng rất nhiều sự hiểu biết của chúng ta về các khả năng mà sự vật có thể là như thế nào; Nó loại bỏ được tính giáo điều tự phụ của những người chưa bao giờ đi vào miền đất của sự hoài nghi có sức mạnh giải phóng, và nó giữ cho sống động cảm giác ngạc nhiên của chúng ta bằng cách cho chúng ta nhìn thấy các sự vật thông thường dưới một khía cạnh mới lạ.
Ngoài lợi ích của triết học trong việc nó cho chúng ta thấy các khả thể bất ngờ, triết học còn có một giá trị khác – có lẽ là giá trị của chính nó – qua sự vĩ đại của các sự vật mà nó chiêm ngưỡng. Nhờ sự chiêm ngưỡng này nó giải phóng chúng ta khỏi các mục tiêu cá nhân hẹp hòi. Đời sống của con người bản năng bị giam hãm trong vòng vây các lợi ích cá nhân của họ. Có thể kể gia đình và bạn bè trong đó, nhưng thế giới bên ngoài thì không được họ xét đến, trừ khi nó tạo sự thuận lợi hay cản trở những gì diễn ra bên trong các ước muốn bản năng. Một cuộc đời như thế thì bồn chồn và tù túng. Còn cuộc đời triết học thì thanh thản và tự do. Thế giới của riêng các lợi ích bản năng là một thế giới nhỏ bé, ở giữa lòng một thế giới lớn mạnh, thế giới lớn này sớm hay muộn sẽ phải hủy diệt thế giới riêng của chúng ta. Trừ khi chúng ta có thể mở rộng các mối quan tâm của chúng ta để bao gồm toàn thế giới bên ngoài. Bằng cách này hay cách khác, nếu muốn đời sống của chúng ta rộng lớn và tự do, chúng ta phải thoát khỏi sự giam hãm và giằng co này.
Một cách để thoát khỏi sự tù túng này là bằng việc chiêm ngưỡng triết học. Chiếm ngưỡng triết học không phân chia vũ trụ thành hai khối thù nghịch – bạn và thù, có lợi và có hại, tốt và xấu. [ Phân biện ] . Nó nhìn cái nhìn tổng thể không thiên vị. Chiêm ngưỡng triết học thuần khiết không nhằm mục tiêu chứng minh rằng phần còn lại của vũ trụ thì giống như con người. Mọi tri thức đắc thủ đều là một sự mở rộng bản ngã. Nhưng sự mở rộng này đạt được tốt nhất khi nó không được trực tiếp tìm kiếm. Nó được tìm thấy khi chỉ có ước muốn tri thức được hoạt động, bằng một việc không định trước rằng các đối tượng của nó sẽ phải có tính chất này hay các tính chất khác, và tự thích ứng mình với các tính chất mà nó sẽ tìm thấy nơi các đối tượng của nó. Chúng ta sẽ không đạt được sự mở rộng bản ngã này khi chúng ta lấy mình làm tiêu chuẩn để tìm cách chứng tỏ rằng, thế giới này rất giống với chúng ta, khiến cho chúng ta có thể hiểu biết về nó mà không cần chấp nhận về những gì có thể xa lạ với chúng ta. Ước muốn chứng minh như thế là một hình thức tự khẳng định mình, nó là một cản trở khiến tư duy không thể tăng trưởng như chúng ta ao ước và như chúng ta nghĩ mình có thể đạt được. Trong tư duy triết học cũng như ở bất cứ đâu khác, sự khẳn định mình luôn nhìn thế giới như một phương tiện để đạt được những mục tiêu riêng cho mình, như thế nó làm cho thế giới nhỏ bé hơn nó và bản ngã đặt ra những giới hạn cho các lợi ích to lớn của thế giới. Ngược lại, trong chiêm ngưỡng triết học, chúng ta bắt đầu từ cái không phải bản ngã, và qua sự vĩ đại của nó, các ranh giới của bản ngã được mở rộng, qua sự vô hạn của vũ trụ, tinh thần khi chiêm ngưỡng vũ trụ sẽ được thông dự vào sự vô hạn này.
Tóm tắt về giá trị của triết hoc: Phải học triết học không phải vì bất cứ một câu trả lời dứt khoát nào cho các câu hỏi của nó, bởi vì trên nguyên tắc, không có câu trả lời nào có thể chứng minh được là đúng, nhưng học triết học vì chính các câu hỏi ấy. Vì các câu hỏi này mổ rộng khái niệm của chúng ta về điều gì đó có thể , làm giàu sự tưởng tượng tri thức của chúng ta, và giảm thiểu thái độ giáo điều là cái làm cho tinh thần của chúng ta đóng kín trước tư duy; nhưng trên hết, qua sự vĩ đại của vũ trụ mà triết học chiêm ngưỡng, tinh thần cũng trở nên lớn lao, có khả năng hợp nhất với vũ trụ, sự hợp nhất này là lợi ích cao nhất của nó.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét