Khoa học & chính trị
Chính trị là nghệ thuật quản lý giá trị xã hội. Luật giá trị và luật lý lẽ là hai mặt biện chứng. Con người nhận thức luật giá trị thông qua luật lý lẽ.
Làm chính trị căn cứ trên luật giá trị; làm khoa học căn cứ trên luật lý lẽ nhằm cung cấp tri thức lý lẽ. Để luật giá trị và luật lý lẽ thống nhất và nhằm cho việc hiệu quả hoạt động quản lý giá trị xã hội thì người làm khoa học không để quyền lực chi phối và gây ra mất tầm nhìn sáng suốt. Ngược lại, người làm chính trị thì không nên quá lệ thuộc vào luật lý lẽ (duy lý trí); họ là những người thử-sai và rút kinh nghiệm. Người làm khoa học là người nghiên cứu và thiết lập luật lý lẽ cho việc thử-sai, tăng cường kinh nghiệm ; người làm chính trị nắm bắt và điều hành luật giá trị.
Khoa học & nghệ thuật
Nhà khoa học đi tìm ra tri thức phản ánh hiện thực. Nhà nghệ thuật đi tìm ra biểu tượng nắm bắt hiện thực.
Khoa học và nghệ thuật có vai trò giúp ta lưu chuyển cảm giác hân hoan, vui sướng, khoan khoái của mình đến nơi (lúc) mà trạng thái ta cảm thấy bi quan, mệt mỏi, tuyệt vọng.
Nhận thức của con người bao gồm hai quá trình: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Hành động của con người tuân theo hai cơ chế: cơ chế khoái cảm (hưng phấn-ức chế) và cơ chế lý trí (đúng-sai). Nhận thức của con người cũng là một dạng hành động. Do vậy, quá trình nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính của con người cũng có sự định hướng của cơ chế khoái cảm, thậm chí là cả cơ chế lý trí. Cũng chính vì lẽ đó, nhận thức của con người dù có một cách tự nhiên nhất, không có sự can thiệp của lý trí thì nó cũng đều có ý tưởng và ý đồ của nó. Vì lẽ đó, nhận thức của con người không hoàn toàn khách quan (theo nghĩa đen), tuy nhiên nó "khách quan" (theo nghĩa rộng nhất) - khách quan không tách biệt khỏi chủ quan - hình ảnh thế giới được nhìn qua một lăng kính đặc thù của mỗi chủ thể (vốn là một phần của thế giới khách quan). Nó trở nên chủ quan (theo nghĩa rộng) khi người ta nhận thức và tự "cải tạo" cái lăng kính của mình. Khi đó vấn đề của khoa học trở thành vấn đề của nghệ thuật. Sống không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật.
Giới hạn trong nghiên cứu khoa học chính là một phần nghệ thuật của khoa học.
Khi một người nghệ sĩ chìm đắm vào sáng tác nghệ thuật thì cũng là lúc họ đang sáng tác chính bản thân họ. Khi một nhà khoa học say sưa khám phá thế giới thì cũng là lúc họ đang khám phá chính bản thân họ.
Khoa học và nghệ thuật có vai trò giúp ta lưu chuyển cảm giác hân hoan, vui sướng, khoan khoái của mình đến nơi (lúc) mà trạng thái ta cảm thấy bi quan, mệt mỏi, tuyệt vọng.
Nhận thức của con người bao gồm hai quá trình: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Hành động của con người tuân theo hai cơ chế: cơ chế khoái cảm (hưng phấn-ức chế) và cơ chế lý trí (đúng-sai). Nhận thức của con người cũng là một dạng hành động. Do vậy, quá trình nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính của con người cũng có sự định hướng của cơ chế khoái cảm, thậm chí là cả cơ chế lý trí. Cũng chính vì lẽ đó, nhận thức của con người dù có một cách tự nhiên nhất, không có sự can thiệp của lý trí thì nó cũng đều có ý tưởng và ý đồ của nó. Vì lẽ đó, nhận thức của con người không hoàn toàn khách quan (theo nghĩa đen), tuy nhiên nó "khách quan" (theo nghĩa rộng nhất) - khách quan không tách biệt khỏi chủ quan - hình ảnh thế giới được nhìn qua một lăng kính đặc thù của mỗi chủ thể (vốn là một phần của thế giới khách quan). Nó trở nên chủ quan (theo nghĩa rộng) khi người ta nhận thức và tự "cải tạo" cái lăng kính của mình. Khi đó vấn đề của khoa học trở thành vấn đề của nghệ thuật. Sống không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật.
Giới hạn trong nghiên cứu khoa học chính là một phần nghệ thuật của khoa học.
Khi một người nghệ sĩ chìm đắm vào sáng tác nghệ thuật thì cũng là lúc họ đang sáng tác chính bản thân họ. Khi một nhà khoa học say sưa khám phá thế giới thì cũng là lúc họ đang khám phá chính bản thân họ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét